mở đầu xu thế quốc tế mới. Đây là nhân tố quan trọng dẫn đến sự ra đời của chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ.2 Tình hình không ổn định ở khu vực Nam Á Do những tranh chấp về biên giới lãnh thổ, mâu thuẫn về dân tộc, tôn giáo… nên quan hệ giữa các quốc gia Nam Á không được tốt đẹp, thậm chí là trong tình trạng căng thẳng và nghi kỵ lẫn nhau. Trong số các nước Nam Á thì thực lực của Ấn Độ là nổi trội nhất, nên Ấn Độ muốn duy trì vai trò “cường quốc khu vực” để chi phối, gây ảnh hưởng và lãnh đạo các nước trong khu vực như thời kỳ còn là Tiểu lục địa. Trong khi đó, các nước còn lại muốn tách dần khỏi sự lệ thuộc quá nhiều vào Ấn Độ và muốn xây dựng một khu vực hòa bình, hữu nghị và bình đẳng.
Mặt khác, họ cũng lo ngại chủ nghĩa dân tộc đại Hinđu đang có xu hướng trỗi dậy, do đó họ dễ đoàn kết, hợp tác với nhau để chống lại sức ép từ Ấn Độ. Vì thế, trong một thời gian dài, Ấn Độ phải tận dụng tối đa những lợi thế đối với từng nước, thực hiện chính sách gây sức ép, vừa tranh thủ giành thế chủ động, tránh để phải rơi vào tình thế bị động và cô lập. Do sự vận động của hai xu hướng trên, tình hình khu vực Nam Á luôn trong tình trạng bất ổn. Thêm vào đó, với sự hiện diện của Mỹ và Trung Quốc càng làm cho tình hình phức tạp hơn.
Từ chỗ chung một cội nguồn ban đầu, sau khi bị thực dân Anh chia cắt thì quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan – hai quốc gia chủ yếu của khu vực, được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu chi phối các mối quan hệ và hợp tác giữa các nước trong khu vực Nam Á với nhau. Quan hệ Ấn Độ – Pakistan luôn bị chi phối bởi những bất đồng, tranh chấp về lãnh thổ, tôn giáo… trong đó, vấn đề Kashmir được xem là “ngòi nổ” chính. Kashmir có tầm chiến lược quan trọng đối với cả Ấn Độ lẫn Pakistan, Kashmir nằm ở vị trí tiếp giáp với Tân Cương (Trung Quốc), Ápganixtan và nước Cộng hòa Trung Á Tajikistan. Nếu kiểm soát được khu vực này thì có thể kiểm soát được một địa bàn chiến lược rộng lớn từ cửa ngõ phía Bắc sang phía Tây Á và Trung Đông.
Từ đầu thập kỷ 90, Ấn Độ đã có những bước đi tích cực để cải thiện mối quan hệ với Pakistan. Ngày 17/10/1991 Thủ tướng Narasimha Rao đã có cuộc gặp gỡ với Thủ tướng Nawas Sharif tại Harave. Ngoài cuộc gặp trên, Thủ tướng N.Rao còn có hai cuộc gặp nữa để cải thiện quan hệ giữa hai nước. Cuộc gặp thứ nhất là tại Hội nghị Thượng đỉnh của SAARC tại Colombo và cuộc thứ hai là tại Diễn đàn kinh tế thế giới tổ chức ở Davos vào tháng 2/1992, nhưng kết quả thu được không đáng là bao.
Cả hai cùng tìm kiếm một giải pháp để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, thông qua đối thoại trên cơ sở thảo luận toàn bộ những vấn đề trong mối quan hệ giữa hai nước, tình hình khu vực. Ngay khi hai vị thủ tướng có những lời tuyên bố tốt đẹp, mặt trận giải phóng Jammu và Kashmir dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Hồi giáo Amanulah đã tuyên bố ý định vượt qua luan an đường kiểm soát hiện tại giữa Ấn Độ và Pakistan. Tình hình trên làm cho mối quan hệ giữa hai nước một lần nữa bước vào trạng thái căng thẳng. Mặc dù vào tháng 8/1992 Thủ tướng N.Rao đã có cuộc gặp gỡ với người đồng nhiệm Thủ tướng N.Sharif nhưng tình trạng căng thẳng vẫn không được giải quyết.
Một sự kiện quan trọng làm cho mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan tiếp tục căng thẳng đó là, vào tháng 12/1992 – với sự kiện những tín đồ Ấn Độ giáo quá khích đã phá hủy thánh đường Hồi giáo Babri ở thị trấn Ayodhya, quan hệ hai nước hoàn toàn bị đóng băng. Trong suốt giai đoạn từ 1994 đến cuối năm 1995, Pakistan đã kiên quyết từ chối những lời đề nghị của Ấn Độ về việc làm giảm tình hình căng thẳng giữa hai bên: Năm 1995, Ấn Độ đưa ra đề nghị duy trì hòa bình và hữu nghị dọc biên giới, giảm số quân của hai bên xuống mức cần thiết, thông báo trước cho nhau những cuộc tập trận, tham khảo ý kiến lẫn nhau giữa các sĩ quan chỉ huy hai bên. Tuy nhiên đề nghị này đã bị Pakistan bác bỏ. Pakistan cũng bác bỏ đề nghị của Thủ tướng N.Rao về việc duy trì những cuộc đối thoại giữa hai nước để giải quyết những vấn đề song phương.
Vì theo quan điểm của họ, New Delhi đã không thành thật trong việc giải quyết vấn đề Kashmir [10, tr. Chỉ tới năm 1997, một cơ hội giúp cải thiện quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan đã xuất hiện, với việc Liên minh Hồi giáo thắng áp đảo trong cuộc tổng tuyển và trở lại cầm quyền ở Pakistan. Nawaz Sharif, người có quan điểm mềm dẽo trong quan hệ với Ấn Độ trở lại làm Thủ tướng, những thiện chí của Ấn Độ nhằm cải thiện quan hệ với Pakistan đã được nước này đáp lại, tình hình căng thẳng giữa hai bên tạm thời được dịu đi. Ngày 7/4/1997, Tổng thống Pakistan L.
Leghari kêu gọi bình thường hóa quan hệ với Ấn Độ, cùng hợp tác để chống nghèo đói thay vị tiếp tục chạy đua vũ trang. Tuy cả Ấn Độ và Pakistan có thiện chí thúc đẩy bình thường hóa với nhau, nhưng cả hai vẫn giữ lập trường của mình về vấn đề Kashmir. Trong khi việc bình thường hóa quan hệ đạt được những bước tiến đáng kể, hai bên có thái độ mềm mỏng hơn, đã thiết lập được đường dây nóng, Ấn Độ đơn giản hơn trong việc cấp visa tạo điều kiện cho nhân dân hai nước tiếp xúc với nhau nhiều hơn, thuận tiện hơn… Quan hệ hai nước chuyển sang căng thẳng khi Đảng Nhân dân Ấn Độ (BJP) Hindu lên cầm quyền với những tuyên bố cứng rắn về vấn đề Kashmir và chương trình hạt nhân. Sự căng thẳng lên tới tột độ với những cuộc thủ hạt nhân của cả hai phía trong tháng 4 và đặc biệt là tháng 5/1998.
luan an Cuộc chạy đua vũ trang và nhất là những vụ thử hạt nhân của Ấn Độ và Pakistan đã làm thay đổi môi trường an ninh khu vực, thế giới. Trước sức ép của các nước trên thế giới, và trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế với xu thế đối thoại thay cho đối đầu, hai nước đã có những điều chỉnh nhằm cải thiện quan hệ. Tại hội nghị cấp cao của Diễn đàn hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) tổ chức ở Sri Lanka vào tháng 7/1998, hai Thủ tướng đã có cuộc tiếp xúc để bàn về những vấn đề song phương quan trọng như vấn đề hòa bình, an ninh tại khu vực sau các vụ thử hạt nhân của mỗi bên; giải quyết một cách hòa bình các vấn đề tồn đọng ở Jammu và Kashmir. Cả hai bên đã nhấn mạnh cam kết xây dựng niềm tin lẫn nhau trong các lĩnh vực vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường.
Trên cơ sở những thiện chí đó, theo lời mời của Thủ tướng Nawaz Sharif, từ ngày 20 và đến ngày 21/2/1999 Thủ tướng Vajpayee đã có chuyến viếng thăm thành phố Lahore bằng xe buýt nhân dịp khai trương tuyến đường giao thông mới này. Trong chuyến viếng thăm này, hai bên đã ký hai văn kiện quan trọng đó là Tuyên bố Lahore và Bản ghi nhớ để chia sẽ quan điểm về vấn đề hòa bình, phồn vinh giữa hai dân tộc, và cụ thể hóa những biện pháp để xây dựng lòng tin trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường nhằm ngăn chặn xung đột. Ngoài ra, hai bên còn nhất trí nổ lực hiện thực hóa tầm nhìn năm 2000 và đẩy mạnh hợp tác trong SAARC. Sau cuộc hành trình ngoại giao ấn tượng bằng xe buýt của Thủ tướng Vajpayee đã xóa tan đi những nghi kỵ lẫn nhau và thúc đẩy quan hệ giữa hai nước láng giềng Nam Á này lên một tầm cao mới: “Đây là chuyến thăm đầu tiên của Thủ tướng Ấn Độ sang Pakistan kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay cũng như từ nhiều năm trước đó” [10, tr.
Hay lời nhận định của Tổng thống Ấn Độ Narayanan: “Đây sẽ là một cơ hội để hai nước hợp tác và cải thiện mối quan hệ” [10, tr. Không những thế, chuyến ngoại giao đặc biệt ấy cũng được dư luận thế giới đánh giá rất cao: “Mỹ hy vọng rằng những thảo luận rộng rãi mới giữa hai nước sẽ cải thiện mối quan hệ và giảm bớt nguy cơ chiến tranh. Còn Anh thì cho rằng nó sẽ giảm bớt nguy cơ xung đột ngẫu nhiên giữa hai nước” [10, tr. Trong khi những thay đổi đã giúp cho hai bên xích lại gần nhau trong quá trình bình thường hóa, tháng 10/1999 cuộc đảo chính do tướng Musharaff tiến hành đã làm gián đoạn việc cải thiện quan hệ giữa hai nước.
Vì vậy, mối quan hệ giữa hai nước đến 9/2000 vẫn không có gì tiến triển so với trước. Cùng với việc phát triển quan hệ song phương, từ thập kỉ 80 thế kỉ XX Ấn Độ đã quan tâm hơn đến việc thúc đẩy hợp tác khu vực. Bởi vì, trong thời gian này, kinh tế thế giới lâm vào suy thoái, khủng hoảng ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế các nước ở Nam Á. Bên cạnh luan an đó, trên thế giới cũng có một số mô hình hợp tác khu vực tương đối thành công như EU, ASEAN… Các nước Nam Á sau hơn 30 độc lập vẫn trong tình trạng kém phát triển và lạc hậu Từ ý tưởng ban đầu của Tổng thống Bangladesh Ziar Rahman về việc thành lập Tổ chức Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC).
Tháng 12/1985 Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên các nước Nam Á đã họp tại Dhaka (Bangladesh), tuyên bố chính thức thành lập Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC). Sự ra đời của SAARC là một thắng lợi quan trọng trong chính sách khu vực của Ấn Độ. Tuy nhiên, lúc đầu cả Ấn Độ và Pakistan đều tỏ thái độ dè dặt, Ấn Độ lo ngại rằng các nước Nam Á lợi dụng diễn đàn này để cô lập Ấn Độ trong các vấn đề tranh chấp. Còn Pakistan thì lo sợ Ấn Độ sẽ nắm vai trò lãnh đạo.
Như vậy, ngay khi mới thành lập cơ chế hợp tác của SAARC đã mang trong nó rất nhiều hạn chế.