Chương I của Hiệp định. Đây là nguyên tắc nhằm tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa trong nước. Thuế quan: Việt Nam đồng ý cắt giảm thuế quan đối với 224 mặt hàng và giữ nguyên mức thuế đối với 20 mặt hàng trên tổng số hơn 6000 dòng thuế. Việc cắt giảm thuế quan các mặt hàng này được áp dụng dần dần theo một lộ trình từ 3 đến 6 năm.
Về phía Hoa Kỳ, ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, hàng Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ sẽ được hưởng mức thuế MFN trung bình khoảng 3% so với mức thuế hiện tại. Và nếu Hoa Kỳ cắt giảm thuế cho các nước thành viên WTO theo các cam kết trong khuôn khổ của tổ chức này thì cũng phải cắt giảm thuế như vậy cho Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Kỳ sẽ xem xét khả năng dành cho Việt Nam hưởng thuế ưu đãi phổ cập đối với một số nhóm mặt hàng. Những quyền về thương mại Hai bên cam kết thực hiện những quyền thương mại theo chuẩn mực quốc tế và WTO ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Theo lộ trình tối đa là 3 năm tất cả các chủ thể kinh tế trong cũng như ngoài nước sẽ được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, để được kinh doanh hoàn toàn, các nhà đầu tư nước ngoài phải vượt qua các hạn chế về chủ thể để thành lập liên doanh hay công ty 100% vốn nước ngoài theo lộ trình từ 3 đến 7 năm. Ngoài ra, Việt Nam còn duy trì hạn chế về các nhóm hàng quan trọng bắt buộc phải qua đầu mối do nhà nước chỉ định. Hàng rào phi thuế quan: Hiệp định yêu cầu các Bên loại bỏ tất cả các hàng rào phi thuế quan, bao gồm những hạn chế về xuất nhập khẩu, hạn ngạch, yêu cầu cấp phép và kiểm soát đối với tất cả các chủng loại.
Về phía Hoa Kỳ, theo quy định của WTO sẽ không có những rào cản phi quan thuế (trừ hạn ngạch đối với hàng dệt may sẽ do một Hiệp định dệt may song phương giữa hai nước điều chỉnh). Ngoài ra, hàng xuất từ Việt Nam khi nhập vào thị trường Hoa Kỳ sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh, an toàn, kỹ thuật theo luật pháp của Hoa Kỳ áp dụng với hàng hoá với tất cả các nước khác trên thế giới. Tương ứng, Việt Nam sẽ loại bỏ các biện pháp hạn chế định lượng theo một lộ trình từ 2 đến 10 năm phụ Luan van thuộc vào từng mặt hàng. Trong khoảng thời gian này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cải thiện sức cạnh tranh hàng hoá và dịch vụ của mình.
Định giá và phí hải quan: Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực không Bên nào được sử dụng các loại phí và phụ phí dưới bất cứ hình thức nào, nhằm mục đích bảo hộ gián tiếp đối với sản xuất trong nước hoặc thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu nhằm mục đích thu ngân sách. Việt Nam cam kết sẽ chỉ thu thuế và phí liên quan đến xuất nhập khẩu tương ứng với chi phí dịch vụ thực tế bỏ ra. Các loại thuế và phí nội địa sẽ áp dụng như nhau cho cả hàng hoá trong nước lẫn hàng hoá nhập khẩu trên nguyên tắc NT. Ngoài ra, các Bên thoả thuận rằng trong vòng 2 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, việc định giá hải quan đối với hàng nhập khẩu sẽ tuân theo một loạt các điều khoản được quy định tại Hiệp định về định giá hải quan của WTO, qua đó xác định được trị giá hàng hoá nhập khẩu để áp dụng những quy định hải quan và thuế quan tương ứng cho lô hàng nhập khẩu.
Về quyền xuất nhập khẩu và quyền phân phối: Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục cấp giấy phép một cách tuỳ ý, và sẽ tuân thủ theo các quy định của Hiệp định WTO. Việt Nam cho phép kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc phân phối đối với 225 nhóm hàng theo mã HS 4 số, tức khoảng 2890 mặt hàng theo mã số HS 8 số (bao gồm cả các nhóm mặt hàng Việt Nam đưa vào lịch trình nhưng không cam kết) trong vòng từ 3 đến 10 năm. Về phía Hoa Kỳ, theo Luật Thương mại Hoa Kỳ, các công ty của Việt Nam và các nước khác đều sẽ được cấp giấy phép hoạt động khi có yêu cầu. Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm: Những tiêu chuẩn này được hai bên cam kết tuân thủ theo điều lệ của WTO.
Các quy định về kỹ thuật, và những thước đo về vệ sinh an toàn thực phẩm phải được áp dụng trên cơ sở đối xử quốc gia, và chỉ được áp dụng trong chừng mực cần thiết để giải quyết những mục đích chính đáng như bảo vệ con người, bảo vệ cuộc sống của động vật, sinh vật,. Quyền sở hữu trí tuệ Luan van Sau 18 tháng kể từ lúc Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết thực hiện Hiệp định về Quyền Sở hữu Trí tuệ. Các quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong Hiệp định được xây dựng trên cơ sở các quy định tương ứng của Hiệp định TRIPS – Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO, tuy nhiên ở đây có một số quy định khắt khe hơn về việc tham gia các điều ước quốc tế, các điều khoản về thời hạn chuyển tiếp, trợ giúp kỹ thuật,. Về cơ bản, hai bên cam kết từng bước thực hiện những quy định TRIPs về những nội dung sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng cam kết trợ giúp Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống luật pháp và thực thi Hiệp định. Lộ trình thực hiện về Quyền Sở hữu Trí tuệ cũng được Việt Nam cam kết như sau: Đối với nghĩa vụ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá và sáng chế: 12 tháng kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Đối với nghĩa vụ bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan và nghĩa vụ bảo hộ thông tin bí mật: 18 tháng kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Đối với việc bảo hộ những tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, tuân thủ những điều khoản của Công ước Geneva, Công ước liên quan đến việc Phân phối những Tín hiệu Mang chương trình được Truyền qua vệ tinh, và việc tuân thủ những yêu cầu về thời hạn đối với quyền tác giả và những quyền liên quan: 30 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Đối với các nghĩa vụ bất kỳ khác: 24 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực. Thƣơng mại dịch vụ Trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO về nguyên tắc Tối huệ quốc, Đối xử quốc gia và các nguyên tắc trong pháp luật quốc gia. Chương này của Hiệp định được xây dựng theo các quy định của Hiệp định Chung về Thương mại dịch vụ của WTO (GATS) với một số thay đổi nhỏ về kỹ thuật và đã được chỉnh lý sao cho hợp lý và hoàn thiện hơn. Về phía Hoa Kỳ, nước này cam kết mở cửa thị trường dịch vụ của mình đối với Việt Nam như với các nước thành viên WTO khác.
Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ Hoa Kỳ và không bị hạn chế về số vốn và các hình thức cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, việc tuân thủ một số Luan van tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ được áp dụng đối với các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam giống như nhiều quốc gia khác. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vì mức độ mở cửa thị trường dịch vụ trong các cam kết từ phía Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều so với Hoa Kỳ. Dịch vụ ngân hàng: Việt Nam đồng ý thực hiện các biện pháp tự do hóa sau: Trong vòng 9 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các ngân hàng của Hoa Kỳ được phép thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam, trong đó phần vốn góp của Hoa Kỳ từ 30% đến 49% vốn pháp định của liên doanh.
Sau 9 năm, được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư Hoa Kỳ. Viễn thông: Việt Nam cho phép thành lập các liên doanh sau 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với mức vốn góp tối đa của Hoa Kỳ là 50% vốn pháp định của liên doanh đối với các dịch vụ viễn thông cao cấp; 4 năm với mức khống chế 49% vốn pháp dịnh của liên doanh đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản. Bảo hiểm: Theo Hiệp định Thương mại song phương, đối với lĩnh vực bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm phương tiện và xây dựng, sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cho phép các công ty Hoa Kỳ thành lập liên doanh, không hạn chế phần góp vốn của Hoa Kỳ. Sau 6 năm, cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của Hoa Kỳ.
Đối với bảo hiểm nhân thọ và các lĩnh vực bảo hiểm không bắt buộc khác, sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, cho phép thành lập các liên doanh có mức vốn góp tối đa của Hoa Kỳ là 50% vốn pháp định của liên doanh. Sau 5 năm, cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư Hoa Kỳ. Các dịch vụ pháp lý: Các nhà dịch vụ Hoa Kỳ có thể cung cấp dịch vụ dưới hình thức chi nhánh, công ty 100% vốn Hoa Kỳ; các chi nhánh này nhận được giấy phép hoạt động là 5 năm và có thể được gia hạn mỗi lần không quá 5 năm. Các dịch vụ kế toán, kiểm toán: Luan van Cho phép công ty 100% vốn Hoa Kỳ được hoạt động trong lĩnh vực này.
Giấy phép được cấp trên cơ sở từng trường hợp, có hiệu lực trong 3 năm, không có giới hạn sau đó. Có thể cung cấp các dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu, không giới hạn sau đó. Các dịch vụ kiến trúc, kỹ thuật và các dịch vụ khác liên quan: Cho phép công ty 100% vốn Hoa Kỳ được phép kinh doanh. Có thể cung cấp các dịch vụ cho các công ty nước ngoài trong 2 năm đầu, sau đó không hạn chế.
Các dịch vụ giáo dục: Chỉ dưới các hình thức liên doanh, 7 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực sẽ được phép lập trường học với 100% vốn Hoa Kỳ.