MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn đề tài ―Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm 2007 đến nay‖ làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế vì hai lý do chính: Một là, do tầm quan trọng của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Ấn Độ là một trong ba đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam (cùng với Trung Quốc và Liên bang Nga). Với những nét tương đồng về văn hóa, lịch sử, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là mối quan hệ hữu nghị, truyền thống lâu đời, được phát triển trên cơ sở tạo dựng nền móng, dày công vun đắp của hai vị lãnh tụ tiền bối kiệt xuất là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru cùng các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và nhân dân hai nước.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ nhân chuyến thăm Ấn Độ vào năm 1978 là “mối quan hệ trong sáng như bầu trời không gợn bóng mây” [140]. Xuất phát từ những tiền đề đó, quan hệ hai nước trong thời gian qua đã phát triển mạnh mẽ, nhất là sang những thập niên đầu thế kỷ XXI. Ngày 6/7/2007 là dấu mốc quan trọng trong quan hệ song phương, khi lãnh đạo hai nước quyết định nâng tầm mối quan hệ truyền thống lên đối tác chiến lược trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ấn Độ coi Việt Nam là người bạn đáng tin cậy, một trụ cột quan trọng trong chính sách Hướng Đông/Hành động hướng Đông.
Việt Nam khẳng định ủng hộ chính sách Hướng Đông/Hành động hướng Đông và ủng hộ Ấn Độ đóng vai trò quan trọng hơn tại các diễn đàn khu vực, quốc tế, đặc biệt tại Liên hợp quốc và các cơ chế hợp tác đa phương do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) làm nòng cốt. Vào tháng 9/2016, trong chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Việt Nam, hai nước đã nhất trí nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Trên phạm vi thế giới, trọng tâm quyền lực đang dịch chuyển từ Tây sang Đông. Tại châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (ÂĐD-TBD), cấu trúc khu vực đang trong quá trình định hình dưới tác động mạnh mẽ của sự điều chỉnh chính sách, quan hệ và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ; sự phát triển và gia tăng của toàn cầu hóa cùng những mặt trái; cách mạng khoa học - công nghệ (KH-CN) 4.0 và sự nổi lên của các vấn đề an ninh truyền thống, đe dọa hòa bình và phát triển.
Là quốc gia lớn nhất Nam Á, có ảnh hưởng mạnh ở Ấn Độ Dương, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 với quy mô dân số đứng thứ hai thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới trong nhiều năm, tiềm lực quân sự xếp thứ tư thế giới cũng như tầm ảnh hưởng chính trị, ngoại giao, văn hóa của mình, Ấn Độ ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng đối với hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực ÂĐD-TBD. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ do đó cũng là một trọng tâm trong chính sách và quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới, khu vực đã, đang và sẽ tiếp tục có những thay đổi mạnh mẽ, phức tạp, Việt Nam và Ấn Độ đứng trước những yêu cầu mới về mục tiêu và lợi ích cả đối nội, đối ngoại, theo đó cần xây dựng tầm nhìn mới cho mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện để phục vụ tốt hơn các nhu cầu, lợi ích, mục tiêu của hai nước trong tình hình mới. Để làm được như vậy, việc nghiên cứu làm rõ các nhân tố tác động đến mối quan hệ này, trên cơ sở đó xác định những định hướng phù hợp trong quan hệ với Ấn Độ có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết đối với Việt Nam.
Hai là, việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ trước đến nay chủ yếu tiếp cận từ góc độ lịch sử và thực tiễn triển khai quan hệ, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu các nhân tố tác động tới quan hệ hai nước, xác định dựa trên khung phân tích theo các luận điểm của các học thuyết quan hệ quốc tế và tiếp cận chính sách đối ngoại. Việc xác định, phân tích làm rõ các nhân tố tác động trong giai đoạn 2007 - 2021 và dự báo sự vận động của các nhân tố đó trong thời gian tới (đến năm 2027) sẽ cung cấp cơ sở khoa học để dự báo tác động của các nhân tố tới quan hệ hai nước, trên cơ sở đó khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. Nhìn lại lịch sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, có thể khẳng định đây là mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, tốt đẹp.
Tuy nhiên, khảo sát thực tiễn quan hệ hai nước lại cho thấy một nghịch lý, đó là sự hợp tác thực chất giữa hai nước chưa tương xứng với tiềm năng và cấp độ quan hệ. Từ đó đặt ra các câu hỏi: Những nhân tố nào tác động đến quan hệ hai nước giai đoạn 2007 -2021 và mức độ, chiều hướng tác động ra sao? Sự vận động và tác động của các nhân tố đó trong thời gian tới sẽ như thế nào? Việt Nam cần có chính sách gì trong quan hệ với Ấn Độ để tăng cường hiệu quả hợp tác? Việc tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn, phục vụ hoạch định, triển khai chính sách của Việt Nam đối với Ấn Độ nói riêng, với khu vực và thế giới nói chung, đồng thời đóng góp vào những mảng còn thiếu trong những nghiên cứu hiện có về chủ đề này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.
Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam và Ấn Độ 2. Về chính sách đối ngoại Việt Nam * Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Carlyle A. Thayer & Ramses Amer (1999), Vietnamese Foreign Policy in Transition (Chính sách đối ngoại Việt Nam trong quá trình chuyển đổi), Palgrave Macmillan, London: trình bày về những nội dung chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Các tác giả cho rằng, chính sách đối ngoại của Việt Nam có sự thay đổi từ việc lấy hệ tư tưởng làm chính sang việc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là chủ đạo.
Ngoài ra, các tác giả cũng nêu bật chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của Việt Nam. David Elliott (2012), Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War to Globalization (Thế giới đang thay đổi: Sự chuyển đổi của Việt Nam từ Chiến tranh Lạnh sang Toàn cầu hóa), Oxford Universty Press: phân tích sự thay đổi trong nhận thức của tầng lớp tinh hoa ở Việt Nam, từ chịu ảnh hưởng nặng nề của ý thức hệ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh sang một giai đoạn mới bị chi phối bởi yếu tố kinh tế thị trường của thời kỳ toàn cầu hóa. Thayer (2015), Vietnamese Diplomacy, 1975 - 2015: From Member of the Socialist Camp to Proactive International Intergration (Ngoại giao Việt Nam: Từ một thành viên của hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) đến chủ động tích cực hội nhập quốc tế), VNU Journal of Social Sciences and Humanities Vol.3: phân tích chính sách đối ngoại của Việt Nam qua ba giai đoạn: 1975 - 1991 (Việt Nam từ một thành viên của khối XHCN trở thành thành viên của cộng đồng quốc tế); 1991 - 2006 (Việt Nam thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại bằng cách phát triển các mối liên kết kinh tế, quan hệ chính trị với các cường quốc chủ chốt ở châu Á, châu Âu, Đông Nam Á (ĐNA) và tham gia các tổ chức khu vực); 2006 - 2015 (Việt Nam khẳng định vai trò quốc tế bằng việc củng cố những mối quan hệ đối tác chiến lược với các cường quốc chính trên thế giới, ở châu Á và theo đuổi chính sách chủ động tích cực hội nhập quốc tế). * Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (2013), Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ Đổi mới, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội: nghiên cứu có tính hệ thống về đường lối và quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới.
Cuốn sách làm rõ cơ sở hoạch định chính sách, quá trình đổi mới tư duy và nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 dung chính sách đối ngoại; các bước triển khai chính sách đối ngoại; đánh giá kết quả thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạch định chính sách. Cuốn sách đã trình bày những nội dung cơ bản về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam và những diễn biến trong quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới trong từng giai đoạn lịch sử. Thông qua đó, tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá chung và rút ra một số bài học kinh nghiệm. Đây là cuốn sách tham khảo hữu ích, giúp người đọc có cái nhìn tổng quan, khái quát về chính sách đối ngoại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Vũ Dương Huân (2016), Về chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội: đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong hoạt động ngoại giao và chính sách đối ngoại theo quan điểm và những đúc kết quý báu từ quá trình nghiên cứu về ngoại giao và chính sách đối ngoại của tác giả. Lê Hoài Trung (Chủ biên) (2017), Đối ngoại đa phương Việt Nam trong thời kỳ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội: đúc kết các cơ sở lý luận và kinh nghiệm trong thực tiễn triển khai đối ngoại đa phương của Việt Nam trong hơn ba thập niên kể từ khi đổi mới toàn diện đất nước (năm 1986). Từ đó, các tác giả đưa ra những nhận định, dự báo đối với đối ngoại đa phương trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời đề xuất các định hướng dài hạn và biện pháp triển khai đối ngoại đa phương của Việt Nam nhằm tiếp tục đóng góp hiệu quả cho việc thực hiện các mục tiêu đối ngoại của đất nước.