Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: Làm rõ lý do lựa chọn đề tài, tìm hiểu các nghiên cứu có sự tương quan với đề tài lựa chọn, nhìn ra những khoảng trống trong nghiên cứu, qua đó chứng minh tính mởi mẻ của đề tài. Bên cạnh đó, sinh viên cũng khái quát mục tiêu, đối tượng và phạm vi cũng như phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận của quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ: Tập trung vào tổng hợp và hoàn thiện lý thuyết liên quan đến quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ trong doanh nghiệp, bao gồm cả các yếu tố ảnh hưởng đến các quy trình tác nghiệp vận tải và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng về quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ của Công ty TNHH Vận Tải và Tiếp Vận Toàn Cầu: Tập trung phân tích thực trạng quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ của Công ty TNHH Vận Tải và Tiếp Vận Toàn Cầu dựa trên cơ sở lý luận ở chương 2, từ đó đưa ra những đánh giá khách quan về thực trạng của các hoạt động tác nghiệp tại Công ty.
Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ của Công ty TNHH Vận Tải và Tiếp Vận Toàn Cầu: Dự báo triển vọng phát triển của hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường bộ của Công ty TNHH Vận Tải và Tiếp Vận Toàn Cầu, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của quy trình tác nghiệp của Công ty. 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY TRÌNH VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BỘ 2. Tổng quan về quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ 2. Khái niệm của quy trình vận chuyển hàng hóa tại doanh nghiệp Để hoàn thiện các giao dịch thương mại, thì hoạt động vận chuyển là vô cùng quan trọng để có thể trao đổi nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm giữa các địa điểm sản xuất, kho hàng hay địa điểm giao nhận hàng khác nhau.
Hoạt động vận chuyển giúp cho hoạt động kinh doanh, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được diễn ra một cách thông suốt. Theo quan điểm chung, vận tải là sự di chuyển hay chuyển động của người, động vật và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Theo Nguyễn Hồng Đàm (2015), “Vận tải chỉ bao gồm những sự di chuyển của vật phẩm và con người khi thỏa mãn đồng thời hai tính chất: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập. Theo An Thị Thanh Nhàn (2017), “Vận chuyển hay vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của con người và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vận chuyển.” Như vậy, dù có sự khác nhau trong cách định nghĩa về vận tải nhưng nhìn chung, vận tải hay vận chuyển là hình thức hoạt động mà con người tạo ra để di chuyển không gian của các vật thể nhằm mục đích thương mại.
Theo An Thị Thanh Nhàn (2017), “Vận chuyển hàng hóa là sự di chuyển hàng hóa trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận chuyển nhằm thực hiện các yêu cầu của mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất kinh doanh.” Các phương tiện vận tải phục vụ cho quá trình vận chuyển bao gồm xe tải, xe container, toa tàu, tàu container, máy bay chở khách và hàng hóa. Vận chuyển hàng hóa là sợi dây liên kết các tác nghiệp sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau của doanh nghiệp. Tại thị trường Việt Nam, vận tải hàng hóa bằng đường bộ vẫn luôn là phương thức vận tải phổ biến nhất, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển của quốc gia. Tổng hợp lại các định nghĩa trên, theo quan điểm quản trị logistics, có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị quy trình vận chuyển hàng hóa, tuy nhiên, tại nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa của Bộ môn Quản trị Tác nghiệp Thương mại quốc tế (2017): “Quản trị quy trình vận chuyển hàng hóa là việc lập kế hoạch, tổ chức và giám sát điều hành quá trình vận chuyển hàng hóa giữa hai địa điểm (một địa điểm bốc hàng và một địa điểm dỡ hàng) trong một quốc gia hay tại hai quốc gia khác nhau, có xem xét đến an toàn, hiệu quả và chi phí”.
Vai trò, vị trí của hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ 2. Vị trí của vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ trong doanh nghiệp Có thể thấy, vị trí của vận tải xuất hiện ở cả giai đoạn đầu vào và đầu ra, xuyên suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ nhà cung cấp cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm đầu vào cho đến khi phân phối hàng hóa đến tay người tiêu 13 dùng. Vận tải như là sợi chỉ, liên kết các tác nghiệp sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau của doanh nghiệp. Vị trí của hoạt động vận chuyển hàng hóa (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018) 2.
Vai trò của hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ Với nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các bên trong một quốc gia cũng như từ quốc gia này đến quốc gia khác ngày một tăng trưởng mạnh, hoạt động vận tải hàng hóa càng cần được chú trọng đầu tư hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, vận chuyển hàng hóa là một trong những mắt xích vô cùng quan trọng trong hệ thống logistics quốc gia nói chung và hệ thống logistics của từng doanh nghiệp nói riêng. Vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung, thể hiện ở 2 đặc điểm chính: một là kết nối sản xuất với tiêu dùng; hai là cầu nối quan trọng trong vận chuyển đa phương thức: (1) Thứ nhất, vận chuyển đường bộ có vai trò chuyên chở hàng hóa giữa các trung tâm kinh tế, giữa các xí nghiệp sản xuất với nơi tiêu dùng. Vận tải bộ giúp cho các hoạt động lưu thông, chuyên chở hàng hóa được thực hiện nhanh chóng, dễ dàng, đưa sản phẩm, hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng.
(2) Thứ hai, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ còn đóng vai trò là cầu nối, hỗ trợ cho các phương tiện khác như vận tải biển, vận tải sắt, vận tải hàng không. Nếu các phương tiện kể trên chỉ có thể vận chuyển hàng hóa theo phương thức CY to CY thì phương thức vận tải đường bộ có thể cung cấp dịch vụ vận chuyển Door to Door, tức là có thể tiếp cận đến thẳng các kho của khách hàng. Như vậy, vận tải bộ đã kết nối mọi điểm trong hoạt động giao dịch, trao đổi hàng hóa. Riêng đối với hoạt động của doanh nghiệp, vận tải đường bộ là một mắt xích không thể thiếu.
Thực tế, vận tải nói chung đã và đang chiếm tỉ lệ chi phí cao, trong đó vận tải bộ có thể lên đến 70% tổng chi phí logistics của doanh nghiệp. Vấn đề này đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp phải triển khai các phương án hợp lý để giảm thiếu chi phí và đáp ứng nhu 14 cầu cung cấp hàng hóa của khách hàng. Bởi vậy, nếu có thể tối ưu hóa hoạt động vận tải, doanh nghiệp có thể giảm thiếu hóa chi phí dành cho sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh, gia tăng năng cạnh tranh cũng như nâng cao khả năng đáp ứng dịch vụ khách hàng. Có thể cho rằng, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ có vị trí vô cùng quan trọng trong mạng lưới logistics cũng như trong quá trình sản xuất và thương mại của doanh nghiệp.
Với vị trí trọng yếu, quản trị vận chuyển hàng hóa phải góp phần hoàn thành hai mục tiêu quản trị logistics trong doanh nghiệp là nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm tổng chi phí của toàn bộ hệ thống logistics. Thành phần tham gia quy trình vận chuyển hàng hóa Hoạt động vận chuyển hàng hóa tại doanh nghiệp hay dịch vụ vận chuyển mà doanh nghiệp giao nhận vận tải cung ứng đều có sự liên kết với nhau trong một hệ thống bao gồm nhiều thành phần tham dự: người gửi hàng, người nhận hàng, đơn vị vận tải, chính phủ và công chúng. Sự liên kết này được thể hiện qua sơ đồ sau: Công chúng Chính phủ Người gửi Người vận tải Người nhận Hình 2. Các thành phần tham gia quy trình vận chuyển hàng hóa (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018) (1) Người gửi hàng (shipper): Là bên bán hàng hóa và thường là chủ hàng, là người có hàng bán và có nhu cầu vận chuyển hàng hóa đến địa điểm nhất định trong khoảng thời gian xác định.
(2) Người nhận hàng (consignee): Thường là khách hàng trong các giao dịch mua bán hàng hóa nhất định. (3) Người vận tải (carrier): Là các tổ chức kinh doanh và cung cấp dịch vụ vận tải chuyên nghiệp với mục tiêu lợi nhuận, họ là chủ sở hữu và vận hành các phương tiện vận tải. Bên cạnh các nhà vận tải còn có các trung gian, đóng vai trò chuyển tiếp các kiện hàng, tạo điều kiện kết nối giữa người gửi, người nhận với các doanh nghiệp vận tải. Có hai loại trung gian phổ biến là đại lý vận tải và môi giới vận tải.
15 (4) Đại lý vận tải: Là tổ chức chịu trách nhiệm thu gom và tập hợp các lô hàng nhỏ từ một hoặc nhiều chủ hàng khác nhau thành kiện hàng lớn, sau đó tối ưu hóa không gian chứa hàng và tuyến đường vận chuyển, đảm bảo giao hàng tới các địa điểm theo yêu cầu. (5) Môi giới vận tải: Là trung gian phối hợp việc sắp xếp vận chuyển bằng việc cung cấp kịp thời các thông tin về cước phí, tuyến vận tải và năng lực vận chuyển. Đối với các hãng vận tải, môi giới giúp họ tìm được khách hàng cho lượt về, tránh tình trạng vận chuyển không tải. Đối với chủ hàng, môi giới vận tải có thể hỗ trợ họ nhờ vào tính chuyên môn hóa và nguồn lực của môi giới.
(6) Chính phủ: Thường là bên đầu tư và quản lý hệ thống hạ tầng cơ sở GTVT và các điểm dừng đỗ phương tiện vận chuyển. Chính phủ can thiệp và kiểm soát nhằm cân đối tổng thể và hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường bằng luật pháp, các chính sách khuyến khích và các chi phí,. (7) Công chúng: Là thành phần hưởng lợi và cũng bị những tác động tiêu cực rất mạnh tới môi trường sống và mức độ an toàn xã hội và kinh tế do hoạt động vận tải gây ra.