MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những định chế tài chính có quy mô rộng với các hoạt động, sản phẩm tài chính đa dạng phức tạp, tài sản phân tán, nguy cơ đối diện nhiều rủi ro đặc trưng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động….Các rủi ro này luôn tồn tại và tích lũy rất nhanh. Trong khi đó, các NHTM sử dụng đòn bẩy tài chính rất mạnh. Vì vậy, các hoạt động trong kinh doanh của NHTM phải được kiểm soát chặt chẽ bởi ngân hàng trung ương với các quy định về an toàn vốn, thanh tra, giám sát về lãi suất huy động, cho vay, quy định kinh doanh ngoại tệ…Để đáp ứng các yêu cầu trong kinh doanh ngân hàng bền vững và bảo vệ lợi ích của công chúng, nhà đầu tư các NHTM phải tăng cường kiểm soát, quản lý và thường xuyên đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào và giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.
Điều này đòi hỏi các NHTM phải tự đổi mới, cải tiến liên tục, thường xuyên các sản phẩm dịch vụ, công nghệ, con người, chất lượng phục vụ và đổi mới trong cách thức kiểm soát cũng như hoạt động của Kiểm toán nội bộ (KTNB). Với hoạt động KTNB truyền thống, nội dung kiểm toán tập trung vào kiểm toán tuân thủ và kiểm toán Báo cáo tài chính. Với KTNB hiện đại, theo khuyến cáo của hiệp hội KTNB quốc tế IIA (International Internal Audit) và Ủy ban giám sát Ngân hàng Basel, KTNB trong các tổ chức nói chung và NHTM nói riêng cần thực hiện chức năng tư vấn thông qua đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của KSNB, quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro (QLRR). Đây chính là mục tiêu quan trọng của Kiểm toán hoạt động (KTHĐ) trong hoạt động của KTNB để mang lại giá trị gia tăng cho ngân hàng.
Như vậy, theo Thông lệ quốc tế của IIA và Ủy ban Basel xu hướng dịch chuyển trong hoạt động của KTNB từ kiểm toán tuân thủ truyền thống sang KTHĐ là xu hướng tất yếu. Thực tế hiện nay cho thấy các NHTM Việt Nam đều tổ chức bộ phận KTNB 1 luan an là tuyến phòng thủ cuối cùng trong mô hình 3 vòng kiểm soát. Tuy nhiên, tại nhiều NHTM Việt Nam, KTNB chủ yếu tập trung vào kiểm toán tuân thủ và kiểm toán Báo cáo tài chính. Bản thân nhà quản trị và KTNB của ngân hàng chưa thấy được vai trò của KTHĐ trong việc tạo giá trị gia tăng nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB), QLRR, và quản trị doanh nghiệp cho ngân hàng.
Điều này dẫn tới những bất cập trong việc thực hiện KTHĐ như: thực hiện mang tính hình thức, thiếu chuyên nghiệp, hiệu quả thu được còn rất hạn chế. Những bất cập điển hình khi triển khai loại hình KTHĐ trong hoạt động của KTNB của các NHTM Việt Nam như: (i) Tần suất thực hiện các cuộc KTHĐ chưa nhiều; (ii) Nội dung kiểm toán còn đơn giản chưa tập trung vào đánh giá hiệu quả, hiệu lực KSNB, QLRR, quản trị doanh nghiệp. Các nội dung về đánh giá tác động với các bên liên quan, QLRR môi trường xã hội gần như ít thực hiện; (iii) Việc xây dựng hệ thống tiêu chí, cơ sở lý luận về phương pháp, quy trình kiểm toán còn lẻ tẻ, rời rạc, theo kinh nghiệm của KTVNB; (iv) Các phát hiện và kiến nghị kiểm toán mới tập trung vào giải quyết sự việc chưa quan tâm tới quy trình đầu vào – đầu ra, chưa tập trung đánh giá được các tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong quản lý và sử dụng các nguồn lực đầu vào. Bên cạnh đó, NHTM Việt Nam có số lượng Kiểm toán viên nội bộ (KTVNB) còn ít cả về số lượng và chất lượng (năng lực phân tích và am hiểu rủi ro trong NHTM, công nghệ thông tin.của KTNB còn thấp) so với quy mô tài sản NHTM nắm giữ.
Điều này dẫn tới việc thực hiện KTHĐ chưa toàn diện. Xuất phát từ các vấn đề nói trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện Kiểm toán hoạt động trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam”. Tổng quan nghiên cứu của đề tài Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả trên các khía cạnh và lĩnh vực khác nhau về KTHĐ, Trong thực tế, KTHĐ đã được xác định và phân tích theo các thuật ngữ khác nhau trong tài liệu của các tác giả: kiểm toán giá trị của tiền (value-formoney - VFM) của các tác giả Glynn (1985) [62] hoặc KTHĐ của các tác giả Carmichael [46], Rittenberg & Schwieger (1985) [88], hoặc kiểm toán quản lý của Ashley & Marie (2000) [38]. Tuy nhiên, nhiều tác giả coi KTHĐ đồng nghĩa với kiểm toán hiệu suất như Power (2000) [85], Homewood (2001) [63], Aren và 2 luan an cộng sự (2005) [34], Gay & Simnett (2010) [60].
Dù với các tên gọi khác nhau nhưng các nghiên cứu đều bắt nguồn với các chủ đề trung tâm của 3Es: Economy (tính kinh tế), Efficiency (tính hiệu quả), Effectiveness (hiệu lực), và đề cập tới các vấn đề lớn của KTHĐ như: nội dung kiểm toán toán, hệ thống tiêu chí đánh giá, phương pháp tiếp cận và kỹ thuật thực hiện, quy trình kiểm toán. Nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới đề tài nghiên cứu 2. Nghiên cứu trong và ngoài nước về nội dung kiểm toán hoạt động 2. Nghiên cứu trong nước về nội dung kiểm toán hoạt động Giáo trình KTHĐ do GS.
Nguyễn Quang Quynh chủ biên (2014), thể hiện rõ mục tiêu của của KTHĐ bao gồm: (i) hiệu lực của kiểm soát quản trị nội bộ các hoạt động (quan tâm đánh giá tính tuân thủ các quy trình, quy định và phương pháp kiểm soát trong đơn vị); (ii) hiệu quả hoạt động gắn liền với tính tiết kiệm là nhận định về sức sản xuất và sức sinh lời của các nguồn lực trong các điều kiện nhất định cùng với việc tổ chức mua sắm, huy động, sử dụng các nguồn lực trong mối quan hệ với đầu ra của các hoạt động; (iii) hiệu năng quản lý phản ánh năng lực quản trị điều hành trên 2 phương diện (mức độ đảm bảo các nguồn lực trong hiện tại và tương lai nhằm đáp ứng mục tiêu đặt ra; sự phù hợp giữa kết quả trong hiện tại và tương lai so với mục tiêu đặt ra). Các mục tiêu này được thể hiện xuyên suốt trong việc thực hiện KTHĐ các hoạt động như: quản lý và sử dụng nhân sự, cung ứng, sản xuất, bán hàng và marketing, thanh toán. Nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm và các bước trong hoạt động kiểm soát của từng hoạt động để làm rõ nội dung kiểm toán [4]. Tuy nhiên, với quan điểm trên hiệu năng quản lý đang có sự giao thoa với hiệu quả hoạt động; hiệu quả hoạt động có bao gồm tính tiết kiệm trong sử dụng nguồn lực đồng thời nghiên cứu chưa đề cập tới KTHĐ trong lĩnh vực ngân hàng.
Giáo trình Kiểm toán hoạt động, Bộ môn kiểm toán, Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh (2018) biên soạn có cách tiếp cận rất thực tế và logic về KTHĐ. Giáo trình đã khẳng định nội dung của KTHĐ rất đa dạng, phong phú theo nhu cầu của nhà quản trị. Nội dung kiểm toán được các tác giả quan tâm nhiều là đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hữu hiệu của các hoạt động, và đánh giá tính đầy đủ, hữu hiệu của 3 luan an Kiểm soát nội bộ (KSNB) trong tổ chức [5]. Cùng với các nền tảng nghiên cứu lý thuyết về nội dung KTHĐ trong các doanh nghiệp, các luận án tiến sỹ trong nước đã quan tâm tới nội dung của KTHĐ trong các lĩnh vực cụ thể: - Luận án tiến sỹ kinh tế của NCS Lê Thị Thu Hà bảo vệ năm 2011 tại Đại học Kinh tế Quốc dân về “Tổ chức KTNB tại các công ty Tài chính Việt Nam” đã phân tích ma trận KTNB để từ đó làm cơ sở đưa ra khuyến nghị KTHĐ là một nội dung mà KTNB thực hiện.
Tác giả đề cập nội dung của KTHĐ trong việc: Đánh giá hiệu quả, hiệu năng các quy trình nghiệp vụ, xem xét mối quan hệ giữa kết quả đạt được với nguồn lực để tạo ra chúng, mối quan hệ giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra dựa trên phương pháp định hướng rủi ro; Đánh giá hiệu quả các hoạt động quản lý, kiểm tra việc sử dụng, phân phối và sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức, kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối và sử dụng thu nhập, bảo toàn và phát triển nguồn vốn; Kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả của các nghiệp vụ, bộ phận, như hoạt động tín dụng, hoạt động huy động vốn, hoạt động mua sắm tài sản, hoạt động phát triển sản phẩm mới, hoạt động quản trị rủi ro. Tuy nhiên đề tài chưa đề cập cụ thể các nội dung đánh giá các vấn đề theo thông lệ của IIA như tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống KSNB, quản trị doanh nghiệp và của QLRR. - Kế thừa tư duy đổi mới về nội dung kiểm toán của KTNB trong việc thực hiện KTHĐ, luận án tiến sỹ kinh tế của NCS Vũ Thùy Linh bảo vệ năm 2014 tại Học viện Tài chính về “Hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy KTNB trong các NHTM Nhà nước Việt Nam” đã đề cập các nội dung KTHĐ trong các NHTM: Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện mục tiêu hoạt động của NHTM; Kiểm tra, đánh giá việc huy động, phân phối và sử dụng nguồn lực của NHTM; Kiểm tra, đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả của các hoạt động mang tính chất nghiệp vụ của NHTM; Kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của hệ thống KSNB của NHTM; Hệ thống thông tin quản lý và hệ thống thông tin tài chính, bao gồm cả hệ thống thông tin điện tử và dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTM. Tác giả đề xuất các NHTM Nhà nước Việt Nam hoàn thiện nội dung KTHĐ, tập trung ưu tiên đánh giá độc lập tính đầy đủ, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống KSNB.
Luận án chưa đề 4 luan an cập các nội dung về đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của QLRR và quản trị nói chung [33]. Tuy nhiên luận án chủ yếu tập trung vào KTNB trong các NHTM nhà nước Việt Nam mà chưa đi sâu nghiên cứu về loại hình KTHĐ trong hệ thống NHTM Việt Nam.