Chương 1: Cơ sơ lý luận về công bố thông tin phát triển bền vững và các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bồ thông tin phát triển bền vững Chương 2: Thiết kế nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc công bố thông tin phát triển bền vững, Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về công bố thông tin phát triển bền vững 8. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu về việc công bố thông tin, công bồ thông tin PTBV cũng như ảnh hưởng của các nhân tố đến công bó thông tin PTBV cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm. Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Nghiên cứu của Laivi (2009) cho thấy ngày nay công bố thông tin có tính chat bat bud đối với công ty niêm yết ( CTNY) không thể thỏa mãn nhu cầu thông tin đa dạng của các nhà đầu tư.
Cooke (1992) nghiên cứu các công ty ở Nhật Bản, bài nghiên cứu cho thấy qui mô công ty và loại ngành công nghiệp có tác động đến công bó thông, tin. Mahoney (2012) cho rằng phát triển bền vững của công ty liên quan đến nỗ lực để gắn kết các tô chức, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có trách nhiệm với xã hội và môi trường ngoài việc đáp ứng kỳ vọng kinh tế Habash (2016) nghiên cứu mức độ công bó thông tin về trách nhiệm xã hội và ảnh hưởng của các nhân tố về quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin TNXH của các doanh nghiệp Ả Rập Saudi. Nghiên cứu này đã khảo. sát 267 báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Ả Rập Saudi giai đoạn từ 2007 đến 2011, bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến và sử dụng danh mục gồm 17 chỉ tiêu công bố thông tin trách nhiệm xã hội dựa trên tiêu chuẩn ISO 26000.
Kết quả cho thấy mức độ công, bố thông tin TNXH của các doanh nghiệp này là 24%, đồng thời kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố sở hữu nhà nước, sở hữu của người quản lý, quy mô công ty và tuổi của công ty là những nhân tố ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bồ thông tin TNXH; hệ số nợ là nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực, trong khi nhân tố sự độc lập của HĐQT, sự kiêm nhiệm của giám đốc điều hành, khả năng sinh lời và ngành nghề kinh doanh là những nhân tố không cho thấy có sự ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin TNXH của các doanh nghiệp này Tiếp theo Arifur Rahman Khan và cộng sự (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bó thông tin về PTBV thông qua các báo cáo thường niên của các công ty tại Bangladesh. Các tác giả lựa chọn 135 công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Dhaka của Bangladesh từ năm 2005 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa sở hữu của các nhà quản lý, sở hữu nước ngoài, sự độc lập của hội đồng quản trị và sự hiện diện của kiểm toán đến mức độ công. thông tin PTBV của các doanh nghiệp.
Hishaam Arshad và Zokhal Vakhidulla (2011) nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố thuộc đặc trưng và ngành nghề của doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin phát triển bền vững của các doanh nghiệp tại Thụy Điền. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô công ty, đặc trưng của ngành nghề và sự tiếp xúc với phương tiện truyền thông là các nhân tố quan trọng. giải thích cho sự khác biệt về mức độ công bố thông tin phát triển bền ving của giữa doanh nghiệp Thụy Điển. Nghiên cứu của Tagesson và cộng sự (2009) đã kiểm tra mức độ và nội dung công bố thông tin PTBV trên trang web chính thức của 169 công ty trên Sở giao dịch chứng khoán Stockholm và tất cả các tổng công ty nhà nước năm.
Kết quả cho thấy mối liên quan giữa quy mô công ty và lợi nhuận với nội dung công bố thông tin PTBV. Ho và Taylor (2007) đã phân tích mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và đặc điểm tài chính đối với tông chỉ số công bố thông tin phát triển bền vững của 50 công ty lớn nhất của Mỹ và Nhật Bản. Kết quả tìm thấy các nhân tố như: Quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, tính thanh khoản, loại hình công ty và tuổi của công ty có ảnh hưởng đến công bố thông tin phát triển bền vững. Khaled Hussainey và cộng sự (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bó thông tin PTBV tại Ai Cập bằng cách thu thập và phân tích dữ liệu của 111 công ty niêm yết trên TTCK Ai Cập trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2010.
Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân đến việc công bố thông tin PTBV gồm: Quy mô công ty, khả năng sinh lời. inh thanh khoản, cơ cầu vốn, loại hình sở hữu và công ty kiêm toán. Kết quả thu thập và phân tích dữ liệu, các tác giả nhận thấy khả năng sinh lời của công ty là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tích cực đến việc công bố thông tin PTBV. Việc báo cáo tài chính được kiểm toán bởi công ty kiểm toán không thuộc “Big Four” cũng có ảnh hưởng đến việc công bố thông tin theo hướng công bố ít thông tin hơn, nhưng ảnh hưởng này là tương đối yếu.
Ngoài ra, các tác giả không, nhận thấy có mối quan hệ nào giữa các nhân tố quy mô công ty, tính thanh khoản, cơ cấu vốn, loại hình sở hữu với việc công bố thông tin PTBV. Nghiên cứu của tác giả Muttanachai Sutipun (2015) đã nghiên cứu 100 công ty trên niêm yết trên sàn chứng khoán Thái Lan năm 2013-2014. Kết quả phân tích đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bó thông tin phát triển bền vững như: Qui mô công ty, loại hình công nghiệp, xuất xứ công, ty.Tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý, loại hình công ty kiểm toán và giải thưởng, CSR là những nhân tố không có ảnh hưởng đến công bồ thông tin PTBV. Do sự khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị.giữa các quốc gia cũng như khác biệt về thời điểm thu thập và phân tích số liệu.
Các nghiên cứu tại mỗi nước đã lựa chọn va phân tích các nhân tố khác nhau để tìm ra sự ảnh hưởng của nó đến việc công bố thông tin PTBV của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nhân tố như quy mô công ty, mức độ độc lập của hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý, đòn bẩy tài chính, loại hình công ty kiểm toán.đã được phần lớn các nhà nghiên cứu của các nước lựa chọn. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, đã có t số nghiên cứu liên quan đến công bó thông tin, công bố thông tin PTBV và các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố đã được thực hiện như: Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) điều tra 205 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh và đưa ra kết luận các nhân tố: Quy mô công ty và sở hữu nước ngoài ảnh hưởng tích cực đến việc công bố thông tin tự nguyện ở Việt Nam. Bich Thi Ngoc Nguyen và cộng sự (2015) nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội với giá trị của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Nhóm tác giả lựa chọn 50 doanh nghiệp niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến 2013 và phân tích nội dung trong các báo cáo thường niên do các doanh nghiệp công bó. Qua nghiên cứu cho thấy việc công bố thông tin về xã hội và môi trường của các doanh nghiệp ở Việt Nam là chưa phổ biến. Ngoài ra, kết quả phân tích hồi quy cho thấy mức độ công bó thông tin TNXH có liên quan với giá trị của doanh nghiệp ở năm tiếp theo năm vừa công bố. Cụ thể, mối quan hệ giữa việc công bố thông tin về môi trường và giá trị công ty ở năm sau là tích cực, trong khi đó thuyết minh thông tin nhân viên và giá trị công ty có mối quan hệ tiêu cực.
Lê Thị Na (2015) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội ở Việt Nam thông qua việc phân tích báo cáo thường niên của 78 doanh nghiệp có quy mô lớn trong năm 2014 niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu. thực nghiệm cho thấy rằng mức độ công bó thông tin về xã hội và môi trường có mối tương quan tích cực và đáng kể với quy mô, khả năng sinh lời và tuổi của công ty, trong khi đòn bay va đặc điểm ngành nghề không cho thấy có mối quan hệ với mức độ công bó TTXH của các doanh nghiệp nghiên cứu. Ho Ngoc Thao Trang va Liafisu Sina Yekini (2014) đã khảo sát 20 doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam trong 3 năm và cho rằng: Hiệu quả tài chính, đòn bây nợ là những nhân tố ảnh hưởng đến công bó thông tin về kinh tế, môi trường và xã hội trong báo cáo thường niên của các công ty Kelly Anh Vu và Thanita Buranatrakul (2014) nghiên cứu mức độ công.
bố thông tin PTBV trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết ở 'Việt Nam, đồng thời xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố như: Sở hữu nhà nước, sở hữu của các nhà quản lý, sở hữu nước ngoài đến mức độ công. bố thông tin kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp. Nhóm tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 200 công ty niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh trong năm 2013 để phục vụ cho nghiên cứu của mình. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giao tiếp xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp (đạt 18,03%), đồng thời các nhân tố sở hữu nhà nước, sở hữu của các nhà quản lý có ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ công bố thông tin PTBV.
Ngoài ra, nhân tố mức độ độc lập của hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin PTBV của các doanh nghiệp.