Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin tùy ý trên báo cáo tải chính giữa niên độ Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC năm cả bắt buộc lẫn tự nguyện. Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện trên BCTC bán niên lại không đáng kể. Hơn nữa, đa phần các nghiên cứu đều chỉ mới tập trung vào mức độ CBTT bắt buộc hoặc tự nguyện, trong khi đó nghiên cứu tập trung đánh giá, kiểm chứng các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên còn khan hiểm.
Nguyễn Hữu Cường [27] đã tóm lược rằng nghiên cứu sớm nhất về CBTT trên BCTC quý được thực hiện bởi MeEwen và Schwartz (1992) với 76 CTNY trên Sở Giao dịch chứng khoán New York và cho rằng các công ty không công bố tắt cả các thông tin phù hợp với chuẩn mực kế toán số 28 về BCTC giữa niên độ. Nghiên cứu của họ cũng lập luận rằng việc thực thi các yêu cầu sẽ nâng cao tính hữu ích của BCTC giữa niên độ, nên đã đề xuất việc soát xét thường xuyên cho BCTC giữa niên độ. Tuy nhiên, các đánh giá này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu việc CBTT bắt buộc ở các BCTC quý bằng phương pháp thống kê mô tả chứ chưa thực hiện việc kiểm chứng sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc cũng như tùy ý trên BCTC: giữa niên độ. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thủy Hưởng [12] đã tóm lược các nghiên cứu 4 về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTC bán niên ở New Zealand trong đó đưa ra kết luận rằng các nhân tố như vốn bên ngoài, các khoản chỉ trả cổ tức giữa niên độ và các khoản thu nhập không mong đợi có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, trong khi đó sự biến động của mùa vụ ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện (Bradbury, 1991) Khác với nghiên cứu trên sử dụng hồi quy logistic để kiểm định sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tự nguyện giữa niên độ, nghiên cứu của Schadewitz va Blevins [29] đã kiểm tra các yếu tố quyết định về việc CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC giữa niên độ của các CTNY không thuộc lĩnh vực tài chính ở Phần Lan trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993 bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) và mức độ CBTT được đo bằng hệ thống chỉ mục do chính các nhà nghiên cứu tự xây dựng nên.
Nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng rủi ro kinh doanh (đo lường bằng độ lệch tiêu chuẩn về sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong doanh thu thuần hoặc độ lệch chuẩn của thay đổi tỷ lệ có định đến tông tài sản) và quy. mô doanh nghiệp (đo lường bằng số lượng nhân viên) có ảnh hưởng đáng kẻ, cụ thể là có mối quan hệ thuận chiều với mức CBTT của các CTNY; ngược lại, tiềm năng tăng trưởng lại có mối quan hệ ngược chiều với mức CBTT. Ngoài ra, trong lĩnh vực CBTT cũng còn có một số nghiên cứu khác khảo sát sự ảnh hưởng của nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC năm của các CTNY ở Vương quốc Anh [23] cũng sử dụng hồi quy OLS. Kết quả đã chỉ ra rằng quyền sở hữu cổ phần của ủy ban kiểm toán có quan hệ cùng chiều với mức độ CBTT của BCTC giữa niên độ; nhưng chuyên môn về kiểm toán tài chính của nhóm kiểm toán có quan hệ nghịch chỉ òn quy mô của ủy ban kiểm toán lại không có sự liên quan đáng kể nào.
Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp (đo lường bằng tổng tài sản), sự tham gia của kiểm toán viên có mối liên hệ tích cực đáng kể với mức độ CBTT trên 5 BCTC giữa niên độ. Như vậy, hạn chế là nghiên cứu trên là chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số rất ít các nhân tố (đặc biệt là chú trọng đến các nhân tô thuộc về đặc trưng của ủy ban kiểm toán) đến mức độ. CBTT trên BCTC giữa niên độ Ở các nước dang phát triển như Malaysia, An Độ, đã có những nghiên cứu để kiểm tra các mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ và các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu như chỉ sử dụng phương pháp thống kê mô tả, và chưa đưa ra kết luận gì về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ [28] Mặt khác, điểm đáng chú ý là các nghiên cứu này đã đánh giá về mức độ CBTT trên BCTC quý, đây là một điểm khác biệt so với các nghiên cứu ở các nước phát triển hầu như chỉ tập trung vào BCTC bán niên.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về BCTC giữa niên độ của nhiều quốc gia, Nguyễn Hữu Cường [27] đã nghiên cứu về mức độ CBTT bắt buộc, tùy ý và tự nguyện trên 700 BCTC giữa niên độ của 7 nước thuộc châu Á — Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Ông đã thiết lập thang đo các mức độ CBTT, khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT dựa trên lý thuyết về tính kinh tế của thông tin (Information Economics Theory) va đưa ra kết luận: mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ ở các quốc gia là khác nhau, và mức độ CBTT là cao hơn ở những quốc gia có hoặc áp dụng luật phù hợp với chudn mực kế toán/chuân mực báo cáo tài chính quốc tế, và cao hơn ở các BCTC được soát xét. Mặt khác, ở bài báo có liên quan Nguyễn Hữu Cường [6] đã dựa vào các nghiên cứu ở các chỉ tiêu về mức độ CBTT bắt buộc và tùy ý ở 7 nước đã chỉ ra rằng mức độ CBTT ở các CTNY ở Việt Nam là kém nhất, đặc biệt là đối với BCTC quý 2. Từ đó, ông đưa ra một số kiến nghị và giải pháp đối với doanh nghiệp cũng như cơ quan ban hành chính sách.
6 Ngoài ra, trong lĩnh vực nghiên cứu về CBTT cũng có một số nghiên cứu có liên quan khác đã đánh giá được mức độ và các nhân tô ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các CTNY tại Việt Nam, nhưng là đối với các BCTC. Phần lớn các nghiên cứu đó đều sử dụng phương pháp OLS và dựa trên các khung lý thuyết như lý thuyết đại diện, hay lý thuyết tín hiệu, v. để kiểm định sự tác động của các nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC năm. Trong đó có các nhân tố như nhân tố khả năng thanh toán [12] hay kha ning sinh lời và tài sản cố định [11] 'Về khía cạnh nghiên cứu về CBTT tự nguyện, có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hào [10], đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các CTNY ở Sở Giao dịch chứng khoán thành phó Hồ Chí Minh.
Bà đã sử dụng lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng thông qua phương pháp OLS, kết quả là lợi nhuận, quy mô và loại hình sở hữu có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện. Nhìn chung, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào CBTT trên BCTC năm, hiếm có nghiên cứu về CBTT trên BCTC giữa niên độ, và càng hiếm hơn đối loại nghiên cứu về CBTT tùy ý. Hơn nữa, trong điều kiện áp dụng Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] về CBTT trên sàn giao dịch chứng khoán, thay thế Thông tư 52/2012/TT- BTC [2] trước đó, việc CBTT của các CTNY ít nhiều có thay đổi. Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào về CBTT tùy ý được tiến hành trong điều kiện áp dụng Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] này.
Đây là một khoảng trống nghiên cứu về mức độ CBTT của các CTNY ở Việt nam. 7 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VA TONG QUAN NGHIEN CUU VE CONG BO THONG TIN TUY Y TREN BAO CAO TAI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CONG BO THONG TIN TREN BAO CA TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ 1. Nội dung báo cáo tài chính giữa niên độ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam s6 27 [1] thi BCTC giữa niên độ là BCTC gồm các báo cáo đầy đủ theo quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam 21 “Trình bày báo cáo tài chính (BCTC)” hoặc các BCTC tóm lược quy định trong chuẩn mực này cho một kỳ kế toán giữa niên độ.
Như vậy, hệ thống BCTC giữa niên độ bao gồm: + Bảng cân đối kế toán (đầy đủ hoặc tóm lược), + Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (đầy đủ hoặc tóm lược), + Báo cáo lưu chuyên tiền tệ (đầy đủ hoặc tóm lược), và + Bản Thuyết minh BCTC chọn lọc. Trong đó, kỳ kế toán giữa niên độ là kỳ lập BCTC tháng hoặc quý theo quy định của pháp luật. Hiện nay, kỳ báo cáo giữa niên độ ngắn nhất được được quy định bắt buộc đối với các CTNY ở Việt Nam là quý [1] CBTT trên BCTC giữa niên độ ở các nước đã áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế chủ yếu chịu sự điều chỉnh của IAS 34, còn ở Việt Nam thì việc này chịu sự điều tiết của chuẩn mực kế toán Việt Nam 27 và đối với các CTNY thì trực tiếp là Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] về hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán. Cũng theo Thông tư này thì các CTNY phải lập và CBTT về BCTC bán niên (06 tháng đầu năm tài chính) và BCTC quý, trong đó BCTC bán niên phải được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận.
Vai trò của báo cáo tài chính giữa niên độ Thông tin trên BCTC là hệ thống các dữ kiện liên quan đến hoạt động của các CTNY tham gia trên thị trường chứng khoán. Nguyễn Hữu Cường [27] đã tóm lược rằng trong những nghiên cứu thời kì đầu trước khi BCTC giữa niên độ được quy định bắt buộc phải công bố, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nhà đầu tư mong muốn biết được nhiều thông tin hơn trên thị trường chứng khoán (Sanders, 1934). Do vậy họ cần nhiều BCTC thường xuyên hơn, nên BCTC giữa niên độ đóng vai trò rất quan trọng.