chương 1 này, tác giả sẽ tập trung làm rõ vấn đề sau: (i) Khái quát về tạo lập vốn CSH; (ii) Tổng quan pháp luật về tạo lập vốn CSH. Khái quát về tạo lập vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1. Khái niệm, đặc điểm về vốn và cơ cấu vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Vốn là điều kiện tiền đề để thành lập và tiến hành cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khái niệm vốn được nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể: Xét về góc độ ngôn ngữ học, vốn là "tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất kinh doanh "1. Định nghĩa này đã trình bày được nguồn gốc hình thành của vốn là tổng thể những tài sản được bỏ ra ngay từ ban đầu (thường thể hiện dạng vật chất bằng tiền) và có 1 Hoàng Phê (2003), Từ Điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.
11 chức năng dùng trong lưu thông sản xuất hàng hóa, song nó vẫn chưa thật sự rõ ràng, đầy đủ và bao quát. Xét về góc độ kinh tế, vốn là "được hiểu một cách khái quát là giá trị được biểu thị đo lường bằng tiền của những yếu tố được ứng trước dùng để hình thành nên các tư liệu sản xuất, trả công cho người lao động, tiến hành hoạt động sản xuất và hoàn thành sản phẩm, dịch vụ với mục đích thu về lợi ích lớn hơn số vốn bỏ ra "2. Khái niệm này chỉ mới dừng lại ở giá trị ứng ra là yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, khái niệm vốn của công ty còn được hiểu như sau: vốn là “toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp"3.
Khái niệm này cho thấy vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các doanh nghiệp mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh, vận hành liên tục trong suốt thời gian tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp. Từ các khái niệm trên, có thể nhận thấy, vốn của doanh nghiệp nói chung và CTTNHH 2TV trở lên nói riêng có thể hiểu là biểu hiện bằng tiền hoặc các dạng tài sản khác được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận cho các CSH. Đây là cơ sở vật chất cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn mang những đặc trưng sau: "i) Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định.
Có nghĩa là vốn phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp. ii) Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh. iii) Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả năng phát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh. iv) Vốn có giá trị về mặt thời gian.
Điều này thể hiện vai trò quan trọng khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn. 2 Ngô Thị Kim Hoài (2017), "Quản trị vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học Viện tài chính, tr. 3 Nguyễn Đình Luận (2016), "Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Nhận định và khuyến nghị", Tạp chí Phát triển & Hội nhập. 12 v) Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra để đầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận.
vi) Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá và có thể được coi là thứ hàng hoá đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường vốn, thị trường tài chính. vii) Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá trị hiện vật (tài sản cố định của doanh nghiệp: máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý.) của các tài sản hữu hình (thương hiệu, các bí quyết trong kinh doanh, các phát minh sáng chế,." 4 Thông thường, vốn của công ty được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Vốn của CTTNHH 2 TV trở lên có thể là vốn cơ hữu của mình, bao gồm vốn của các thành viên cam kết góp, đã góp vào và phần vốn hình thành từ lợi nhuận được trích lại. Ngoài ra, vốn của CTTNHH 2 TV trở lên còn bao gồm cả vốn vay dưới dạng các hợp đồng tín dụng hoặc dưới dạng phát hành trái phiếu.
Việc có nguồn vốn dồi dào là điều kiện tối thiểu cần thiết cho hoạt động của công ty, tuy nhiên nguồn hình thành nên vốn và cơ cấu của vốn có ý nghĩa rất quan trọng. Vốn hình thành từ vốn góp của các thành viên là yếu tố quan trọng trong cơ cấu vốn của công ty. Phần vốn này trong cơ cấu vốn của công ty cho phép các đối tác biết độ tin cậy về tài sản và quy mô của công ty ở mức nào để trên cơ sở đó xác định tính chất cũng như phạm vi giao kết hợp đồng. Vốn tích lũy được từ lợi nhuận của công ty cũng là yếu tố quan trọng khác, vốn tích lũy được cho phép công ty mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động.
Vốn vay đóng vai trò nhằm bổ sung cho sự thiếu hụt vốn của công ty. Cơ cấu vốn trong công ty có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực thi các chiến lược kinh doanh, tiếp cận thị trường, đạt hiệu quả kinh tế, khả năng sinh lợi và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nhưng tìm được một cơ cấu vốn tối ưu không phải là điều dễ dàng để đảm bảo tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. 4 Nguyễn Đình Luận (2016), "Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Nhận định và khuyến nghị", Tạp chí Phát triển & Hội nhập.
13 Như vậy, cấu trúc vốn tối ưu được xem xét dựa trên tỷ lệ giữa vốn CSH và vốn vay sao cho tối thiểu chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro kinh doanh đồng thời tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trên thị trường. Việc xác định cấu trúc vốn tối ưu còn phụ thuộc quan điểm, chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trong cơ cấu vốn của CTTNHH 2TV trở lên thì việc xem xét, phân tích nguồn vốn hình thành có ý nghĩa quan trọng. Đồng thời, cơ cấu vốn ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn CSH và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp.
Trong đó, chi phí sử dụng vốn đầu tư bình quân5 trong hoạt động kinh doanh của CTTNHH 2TV trở lên sẽ giúp doanh nghiệp có đủ nguồn vốn để thực hiện các hạng mục đầu tư nhằm giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn. Đồng thời, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu6 trong hoạt động kinh doanh của CTTNHH 2TV trở lên sẽ giúp các doanh nghiệp nắm bắt được mức độ lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là doanh nghiệp kinh doanh đang có lãi; nếu mang giá trị âm là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ. Vì vậy, việc nắm rõ cơ cấu vốn, giúp người quản lý, điều hành, người đại diện pháp luật công ty quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp.
Khái luận về vốn chủ sở hữu, các nguồn vốn và hình thức tạo lập vốn chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Vốn chủ sở hữu Vốn CSH là giá trị phần vốn của doanh nghiệp được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ (-) nợ phải trả7. Có thể nhận thấy, vốn CSH chính là phần vốn nội tại của doanh nghiệp được hình thành dựa trên phần vốn góp của các thành viên góp vốn vào công ty từ lúc thành lập, vốn CSH sẽ được tính dựa trên số chênh lệch giữa giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ đi số nợ doanh nghiệp phải trả trong quá trình hoạt động, vận 5 Chi phí sử dụng vốn đầu tư bình quân, thuật ngữ tiếng Anh là “Weighted Average Cost of Capital", viết tắt là WACC. Được hiểu là các loại chi phí sử dụng đến vốn của doanh nghiệp. Chi phí này được tính toán dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuất.
Nguồn vốn của các doanh nghiệp tài trợ thường bao gồm: vốn góp, trái phiếu, nợ vay… 6 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thuật ngữ tiếng Anh là “Return on Equity”, viết tắt là (ROE). Được hiểu là tỷ số tài chính để tính toán, xác định khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của doanh nghiệp. 7 Mục 18, Chuẩn mực số 01 (Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). 14 hành kinh doanh.
Nói cách khác, sau khi dùng giá trị tài sản của doanh nghiệp trừ đi cho các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả trong quá trình hoạt động kinh doanh, thì phần còn dư lại sẽ được xem là phần vốn CSH. Vốn CSH là thước đo quan trọng giúp CSH hiểu được giá trị phần vốn góp trong doanh nghiệp của mình. Đối với hoạt động kinh doanh hàng ngày, vốn CSH vừa là dấu hiệu nhận biết có giá trị về tình hình tài chính của doanh nghiệp (giúp NĐT đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp, bao gồm tổng giá trị của tất cả phần vốn góp vào doanh nghiệp, đồng thời đánh giá được khả năng thanh toán và rủi ro tài chính của doanh nghiệp thể hiện thông qua tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay) vừa là cách để theo dõi xem công ty đang tăng hay giảm giá trị theo thời gian. Nhiều CSH sử dụng vốn CSH để chứng minh giá trị công ty của họ với NĐT, người cho vay, đối tác, khách hàng khi tìm kiếm, huy động nguồn vốn bên ngoài hoặc để chứng tỏ năng lực của mình.
Vốn CSH được phản ánh chi tiết trong Bảng cân đối kế toán và được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính. Bảng cân đối kế toán thể hiện đầy đủ số liệu thực trạng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, tùy vào từng mô hình doanh nghiệp mà loại vốn chủ sở hữu sẽ gồm những thành phần khác nhau.