CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh 1.1 Khái niệm kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. TS Trương Bá Thanh, 2009) 1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã tạo ra những biến đổi đáng kể trong nền kinh tế của đất nước. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất và kinh doanh trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng. Trong lĩnh vực kinh tế, từ xưa đến nay, đã có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thực tế, trong môi trường kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần phải kinh doanh hiệu quả. Khi doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh cao, nó sẽ có cơ hội mở rộng và phát triển, đầu tư vào thiết bị và phương tiện, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động. Nordhaus (1991) “ Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó.” Quan điểm này thực sự nhấn mạnh về khía cạnh hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế xã hội.
Bằng cách phân bổ và sử dụng nguồn lực sản xuất một cách tối ưu trong giới hạn khả năng sản xuất, nền kinh tế có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Tác giả cho rằng mức độ hiệu quả này là tối đa, là một mục tiêu lý tưởng và không thể có hiệu quả cao hơn nữa. Về mặt lý thuyết, hiệu quả chỉ có thể đạt được khi sử dụng nguồn lực trong giới hạn năng lực sản xuất. Tuy nhiên, để đạt được mức hiệu quả đó đòi hỏi đáp ứng nhiều yếu tố, trong đó có khả năng dự báo và quyết định đầu tư sản xuất theo quy mô phù hợp với nhu cầu thị trường.
Tuy nhiên, không phải lúc nào điều này cũng thực hiện được trong thực tế. 4 Nhiều nhà quản trị học quan niệm rằng hiệu quả được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Điển hình là quan điểm của tác giả Manfred Kuhn, theo ông : "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh". Quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng để tính hiệu quả kinh tế trong các quá trình sản xuất kinh doanh Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá".Như vây, hiệu quả trong kinh doanh có nghĩa là đạt được kết quả mong muốn và phản ánh sự thành công của doanh nghiệp.
Để đạt hiệu quả, doanh nghiệp có thể tăng chi phí để mở rộng và tận dụng tối đa nguồn lực sản xuất. Một điều đáng chú ý là nếu cùng một kết quả có thể đạt được với hai mức chi phí khác nhau, thì doanh nghiệp cũng được coi là hiệu quả theo quan điểm này. Theo Đỗ Hoàng Toàn (1994) "Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể".
Mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh đều mang trong mình những ưu điểm và nhược điểm, và chưa đạt đến sự hoàn thiện tuyệt đối. Từ các quan điểm này, chúng ta có thể xây dựng các định nghĩa đầy đủ về hiệu quả kinh doanh như sau: “Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực(lao động, máy móc, thiết bị, vốn và một số yếu tố khác,.) để đạt được mục tiêu xác định. Nó được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào”. Công thức: H =K/C Trong đó: H - Hiệu quả của kinh doanh K - Kết quả đạt được C - Hao phí nguồn lực gắn với kết quả đó.
Phân tích hiệu quả kinh doanh 1.1 Khái niệm phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích kinh doanh là quá trình nghiên cứu mục đích để đánh giá toàn diện quá trình và kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp, nhằm hiểu rõ chất lượng kinh doanh và xác định các nguồn tiềm năng cần được khai thác. Trên cơ sở này, các phương án và giải pháp được đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Phân tích kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo kinh doanh một cách tự giác và có ý thức phù hợp với điều kiện cụ thể và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Phân tích hiệu quả kinh doanh không chỉ cung cấp thông tin về trạng thái kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp, mà còn là nền tảng để các nhà quản trị xem xét, đánh giá và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ đó, các nhà quản trị có thể áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và đạt được hiệu quả kinh doanh cao.2 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh Mục tiêu chính của mọi doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh luôn là đạt được hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy phân tích hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng Phân tích hiệu quả kinh doanh là công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã đề ra. Thông qua phân tích này, thông tin được thu thập và phân tích sẽ cung cấp một cơ sở khoa học để mọi đối tượng sử dụng, bao gồm nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, các cơ quan chức năng và các đối tượng khác, để đưa ra các quyết định chính xác và kịp thời. Việc sử dụng thông tin từ phân tích hiệu quả kinh doanh giúp các bên liên quan có cái nhìn tổng thể và có thể xác định hướng đi và biện pháp cần thiết để đạt được sự thành công và phát triển bền vững.
Phân tích kinh doanh giúp doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn hơn về khả năng sẵn có, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp từ đó để xác định được mục tiêu, chiến lược kinh doanh đạt hiệu quả cao. Không những thế phân tích hiệu quả kinh doanh cung cấp thông tin quan trọng giúp nhà đầu tư đánh giá xem số vốn mà họ đã đầu tư có được sử dụng hiệu quả hay không. Nó cũng giúp họ đánh giá triển vọng phát 6 triển của doanh nghiệp trong tương lai. Thông qua phân tích này, nhà đầu tư có thể xác định rủi ro, lợi ích và tiềm năng của việc đầu tư và đưa ra quyết định thông minh về việc duy trì hoặc tăng cường đầu tư vào doanh nghiệp.3 Nội dung của phân tích hiệu quả kinh doanh Nội dung của phân tích hiệu quả kinh doanh là phân tích các hiện tượng kinh tế, quá trình kinh tế đã hoặc sẽ xảy ra trong một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập dưới sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau.
Các hiện tượng quá trình này được thể hiện dưới một kết quả sản xuất kinh doanh cụ thể được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế Phân tích là đánh giá quá trình hướng đến kết quả kinh doanh, hiệu quả kinh doanh có thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả kinh doanh mục tiêu trong tương lai cần phải đạt được. Kết quả kinh doanh có thể là kết quả của từng giai đoạn riêng biệt như kết quả bán hàng, tình hình lợi nhuận. Phân tích hiệu quả kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế gắn liền với nó mà còn cần xem xét và phân tích kĩ các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự biến đổi của các chỉ tiêu từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp để khác phục những mặt hạn chế giúp doanh nghiệp có thể phát triển bền vững. Phân tích hiệu quả kinh doanh đòi hỏi phải xác định các đặc trưng về mọi khía cạnh của các giai đoạn trong quá trình kinh doanh, nhằm hiểu rõ xu hướng, nhịp độ phát triển, và xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của toàn bộ quá trình kinh doanh.
Như vậy để phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải xây dựng các chỉ tiêu kinh tế đồng thời xây dựng mối quan hệ phụ thuộc của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 1.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh 1.1 Chỉ tiêu doanh thu Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu bao gồm: 7 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ số tiền bán hàng, sản phẩm, dịch vụ được khách hàng thanh toán Doanh thu hoạt động tài chính: Là những khoản thu từ hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh về vốn đem lại. Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm tiền lãi cho vay, lãi bán hàng trả chậm, lãi đầu tư trái phiếu, lãi chuyển nhượng chứng khoán, lãi bán ngoại tệ, thu nhập từ cho thuê tài sản, cổ tức được hưởng và các khoản doanh thu khác,… Thu nhập khác: Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu. Doanh thu bán hàng: Doanh thu bán hàng là tổng giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong kỳ.
Doanh thu bán hàng thuần: Doanh thu bán hàng thuần bằng doanh thu bán hàng trừ các khoản giảm trừ, các khoản thuế, chỉ tiêu này phản ánh thuần giá trị hàng bán của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.