CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 1.NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nguồn nhân lực trong phạm vi doanh nghiệp Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Do đó, phát triển nguồn nhân lực này đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Theo Liên Hiệp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [12, tr. Ngân hàng thế giới cho rằng “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thẻ lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,. của mỗi cá nhân” [ 17, tr.TS Bùi Văn Nhơn trong giáo trình “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội (2006). "Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp.
do doanh nghiệp trả lương” [18, tr. Theo giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2006), “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động” [7, tr. Trong phạm vi đề cương luận văn, nguồn nhân lực là nguồn lực con người đề thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đó, bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của người làm việc tương ứng với nhiệm vụ đó. Số lượng nguồn nhân lực đề cập đến số lượng lao động hiện có trong tỏ 13 chức, doanh nghiệp.
Đây là số lao động biên ché dé duy trì sản xuất trong hiện tại hoặc dự kiến trong tương lai. Chất lượng nguồn nhân lực là năng lực và động lực thúc đây người lao động trong quá trình tham gia đóng góp cho tô chức. Trong mỗi doanh nghiệp, nguồn nhân lực, một mặt là động lực thúc đây sự phát triển của tổ chức, mặt khác, nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển tô chức. Hay nói cách khác sự phát triển của tô chức cũng nhằm phục vụ lợi ich va tạo điều kiện phát triển cho nguồn nhân lực.
Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực của mình để đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Theo sách Quản trị nguồn nhân lực của Trằn Kim Dung (2015), NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, quản trị nguồn nhân lực là “hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng vẻ thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” [6]. Theo Hà Văn Hội, khái niệm quản trị nhân lực được hiểu là “những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân” [10, tr. Tuy nhiên, dù có hiểu theo cách nảo, quản trị nguồn nhân lực vẫn là hoạt động của tô chức đề thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.
Do đó, về bản chất, quản trị nguồn nhân lực có thể hiểu là công tác quản lý con người trong phạm vi một tô chức, là sự đối xử của một tổ chức doanh nghiệp với người lao động. Nói cách khác, quản trị nguồn nhân lực 14 chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào doanh nghiệp, giúp người lao động thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh. Quản trị NNL gồm một số nội dung cơ bản đó là - Hoạch định nguồn nhân lực ~ Phân tích công việc - Tuyển dụng nguồn nhân lực - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ~ Đánh giá thành tích nhân viên ~ Đãi ngộ lao động Như vậy, phát triển NNL là một trong những nội dung của quản trị NNL. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực + Phát triển: là quá trình biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình biến đổi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tích lũy dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng. Trong tô chức, phát triển là quá trình lâu đài nhằm nâng cao năng lực và động cơ của nhân viên đề biến họ thành những nhân viên tương lai quý báu của tô chức. Phát triển không chỉ gồm đào tạo mà còn cả sự nghiệp và những kinh nghiệm khác nữa.
+ Phát triển nguồn nhân lực: tùy theo các góc nhìn và hướng tiếp cận khác nhau mà có một số khái niệm về phát triển nguồn nhân lực như sau: Theo UNESCO, “phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp với sự phát triển của đất nước. Và chỉ nên giới 15 han trong phạm vi kỹ năng lao động và thích ứng với nhu cầu việc làm”. Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), “Phat triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát triển một quốc gia. Nó bao gồm một khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tao, boi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn”.
Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), “Phát triển nguồn nhân lực là tông thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động” [§, tr. Trong phạm vi luận văn, phát triển nguồn nhân lực được chú trọng về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đề đáp ứng được yêu cầu của tô chức sắp tới và đáp ứng được chính bản thân người lao động. Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là tăng chất lượng nguồn nhân lực trong tô chức để đủ sức thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao các mặt: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, trình độ nhận thức của người lao động để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của tô chức sắp tới và đáp ứng được chính bản thân người lao động nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi nguồn nhân lực. Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kê về chất lượng của nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ để đáp ứng nhu cầu l6 ngày càng cao của tô chức và yêu cầu của người lao động. Hiện nay, đa số các doanh nghiệp đang tập trung vào mô hình KSA (Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ) để phát triển nguồn nhân lực.
Theo mô hình này, để phát triển nguồn nhân lực, các doanh nghiệp phải tập trung nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ cho người lao động. KSA là mô hình được sử dụng rất phô biến trong quản trị nhân sự nhằm đào tạo và phát triển năng lực cá nhân. Mô hình KSA do Benjamin Bloom đưa ra vào năm 1956 bao gồm ba nhóm năng lực chính: - Kiến thức (Knowiledge): thuộc về năng lực tư duy (Cognitive) - K¥ nang (Skills): k¥ nang thao tac (Manual or physical) - Thai d6 (Attitude): thudc ve phạm vi cảm xúc, tình cảm (Affective) Kiến thức là những khả năng về thu thập thông tin dữ liệu, năng lực hiểu cdc van dé (comprehension), nang luc img dung (application), nang luc phan tich (analysis), nang luc tong hop (synthethis), nang luc danh gid (evaluation). Day 1a nhimg nang luc co ban ma một cá nhân cần hội tụ để đảm nhận một công việc.
Công việc càng phức tạp thi cấp độ yêu cầu về các năng lực này càng cao. Tùy theo đặc thù của từng doanh nghiệp, các năng lực này được cụ thể hóa khác nhau. The ASK model — Attitudes, Skills & Knowledge S Skills la ielleetue 2 Soci 2 Communicative Ca Phưeee Attitudes -Camase Sees K ke - Ch—_n mcermea ah. Set Pagutation teas Hinh 1.
M6 hinh nang luc KSA 17 Kỹ năng được hiểu là những khả năng thực hiện các công việc cụ thể, biến kiến thức thành hành động. Tùy từng mục đích phân loại, kỹ năng có thẻ được chia thành nhiều dạng. Thông thường, kỹ năng được chia thành 3 loại chủ yếu, đó là kỹ năng sống, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng làm việc. Nếu đi sâu vào chuyên môn, có các loại kỹ năng như kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp.
Kỹ năng cứng là những kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng chuyên môn, giúp người lao động thực hiện những công việc cụ thể theo những tiêu chuẩn nhất định. Kỹ năng mềm bao gồm các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đàm phán. Kỹ năng mềm phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tương tác vì thế khó có quy chuẩn cho loại kỹ năng này. Trong 2 loại kỹ năng này, kỹ năng mềm đóng vai trò lớn hơn trong sự thành công của một con người.
Theo Daniel Goleman, kỹ năng cứng chỉ chiếm 15%, trong khi kỳ năng mềm chiếm tới 85% khả năng thành đạt của mỗi con người. Do đó, muốn thành công, nhân viên cần phải kết hợp cả hai loại kỹ năng này. Thái độ bao gồm các nhân tố thuộc vẻ thế giới quan tiếp nhận và phản ứng lại các thực tế (receiving, responding to phenomena), xác định giá trị (valuing), gid tri wu tiên.