Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương này trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp tiến hành nghiên cứu đồng thời nêu đối tượng, phạm vi và kết cấu của luận án. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2 trình bày, tổng hợp, hệ thống các lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu. Từ đó, luận án đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết áp dụng cho các DNKN tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa ra cách thức chọn mẫu, các bước xử lý dữ liệu, phương pháp kiểm định mô hình, kiểm định giả thuyết để phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng giữa các khái niệm nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày đặc điểm mẫu nghiên cứu của các DNKN tại Việt Nam. Tiếp theo, các bước kỹ thuật phân tích bao gồm: phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc.
Luận án kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất ban đầu và thảo luận kết quả nghiên cứu. Kết luận và hàm ý cho nhà quản trị Chương này tổng kết kết quả nghiên cứu đạt được. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành đưa ra các hàm ý quản trị giúp các DNKN xây dựng mạng lưới mối quan hệ, thực hiện BMI nhằm cải thiện kết quả hoạt động. Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn chế và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục -21- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu Trong chương 2, luận án sẽ trình bày bốn lý thuyết nền cho nghiên cứu là: lý thuyết thể chế, lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết đổi mới, và lý thuyết VARIM. Từ các lý thuyết, bốn khái niệm nghiên cứu được sử dụng là: mạng lưới quan hệ, BMI, tính năng động thị trường và kết quả hoạt động của DNKN. Luận án vận dụng lý thuyết nền và một số nghiên cứu thực nghiệm trước để biện luận cho các mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu.
Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được đề xuất trong chương này. Lý thuyết thể chế Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng và tiếp cận theo góc độ khác nhau. Có hai cách tiếp cận từ lý thuyết này là kinh tế học thể chế và xã hội học. Theo cách tiếp cận từ góc độ kinh tế học thể chế: Các yếu tố thường được quan tâm chính về thể chế là quyền sở hữu, hợp đồng, và hiệu lực thực thi hợp đồng cũng như các điều kiện (thông tin, cơ quan kiểm định…) thúc đẩy quá trình thực thi hợp đồng.
Khi thể chế chính thống còn yếu, các doanh nghiệp sẽ sử dụng thể chế không chính thống (tục lệ, văn hóa, v.) nhiều hơn trong tương tác. Theo cách tiếp cận từ xã hội học: Vấn đề chính được quan tâm là doanh nghiệp làm thế nào để được xã hội chấp nhận. Sự chấp nhận có 3 trụ cột chính: kiểm soát (các luật lệ rõ ràng để kiểm soát hành vi), chuẩn mực (các chuẩn mực giá trị đạo đức điều chỉnh hành vi) và nhận thức (định hướng vấn đề). Khi một doanh nghiệp có sự chấp nhận của xã hội càng cao thì sẽ càng có nhiều cơ hội tồn tại.
Một ngành càng có nhiều tổ chức hoạt động giống nhau thì càng có sự chấp thuận cao. Theo quan điểm từ sự tiếp cận này, lý -22- thuyết thể chế lí giải sự tồn tại của doanh nghiệp/ngành, không lí giải kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm về thể chế North (1990) định nghĩa thể chế là “luật chơi của xã hội”, là các quy định, hạn chế do con người tạo ra để định hướng, quy định những việc cá nhân không được làm, hoặc được làm trong một số điều kiện nhất định, là khung quy định về sự tương tác giữa con người. Scott (1995) định nghĩa thể chế bao gồm các ràng buộc và hành động thuộc về nhận thức, chuẩn mực và luật lệ nhằm tạo ra sự ổn định và ý nghĩa của hành vi xã hội.
Phân loại: Thể chế bao gồm thể chế chính thống và thể chế không chính thống. Thể chế chính thống là các luật lệ, chính sách được ban hành thành các văn bản của nhà nước. Thể chính không chính thống thường đề cập đến các tục lệ, truyền thống, quy định ngầm. Quan điểm được rút ra của lý thuyết thể chế từ sự tiếp cận của kinh tế học và xã hội học là mỗi doanh nghiệp khi tuân thủ các ràng buộc từ thể chế, sẽ được xã hội chấp nhận (legitimacy).
Khi được chấp nhận, doanh nghiệp có nhiều khả năng “sống sót”, tồn tại. “Sự chấp nhận của xã hội” trở thành mấu chốt trong lý thuyết thể chế. Aldrich & Fiol (1994) nêu ra hai loại chấp nhận: Sự chấp nhận trong nhận thức: nhận thức về thực thể (doanh nghiệp/ngành) hay thực hành (hệ thống, chính sách quản lí) mới được lan tỏa. Sự chấp nhận về chính trị - xã hội: mức độ mà xã hội (các bên liên quan, công chúng, quan chức…) xem thực thể/thực hành là phù hợp với chuẩn mực xã hội và luật pháp.
Vai trò của thể chế: Thể chế được tạo ra cung cấp một khuôn khổ hành vi cho các hoạt động, nhằm giảm tính bất định cho sự giao dịch của con người/tổ chức. Ngoài ra, thể chế còn ảnh hưởng đến chi phí giao dịch và chi phí sản xuất sản phẩm. -23- Thể chế ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí giao dịch hàng hóa và tác động gián tiếp đến chi phí sản xuất (Nguyễn Văn Thắng, 2015). Ứng dụng lý thuyết thể chế vào hoạt động khởi nghiệp Lý thuyết thể chế đã trở nên phổ biến trong nghiên cứu khởi nghiệp (Bruton & cộng sự, 2010; Su & cộng sự, 2017).
Ứng dụng lý thuyết này trong nghiên cứu khởi nghiệp đã được chứng minh là rất hữu ích vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự hình thành các nguồn lực khởi nghiệp, ngoài các nguồn lực của tổ chức (Peng, 2006), hay ảnh hưởng của môi trường thể chế đối với tinh thần khởi nghiệp, tỷ lệ khởi nghiệp, và sự chấp nhận (North, 1990; Aldrich & Fiol, 1994; Bruton & cộng sự, 2010;). Thiết lập thể chế và khởi nghiệp: Khởi nghiệp bị ràng buộc bởi thể chế trong môi trường hoạt động. Các yếu tố của thể chế tác động đến khởi nghiệp bao gồm: hành động trực tiếp của Chính phủ trong việc xây dựng và duy trì môi trường hỗ trợ khởi nghiệp, các chuẩn mực xã hội đối với tinh thần khởi nghiệp. Chính phủ có thể đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả bằng cách loại bỏ các rào cản gia nhập, thông tin không hoàn hảo của thị trường, và các quy định không cần thiết (Bruton & cộng sự, 2010).
Broadman & cộng sự (2004) phát hiện ra rằng tăng trưởng kinh tế bị cản trở do thiếu các thể chế dựa trên thị trường hiệu quả (effective market-based institutions) để bảo vệ quyền sở hữu và đảm bảo cạnh tranh công bằng. Do đó, các mối quan hệ không chính thức và mối quan hệ với Chính phủ sẽ bổ sung vào khoảng trống thể chế do thể chế chính thống không đầy đủ (Khanna & Palepu, 1997). Các thể chế không chính thống như xây dựng kết nối với các cán bộ Chính phủ và các mối quan hệ quản lý khác (Peng & Luo, 2000) có thể rất hữu ích, nhưng cũng có thể gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp và cản trở sự phát triển trong việc đầu tư mạo hiểm mới (Rajan & Zingales, 1998; Huang, 2008). Các nhà khởi nghiệp sẽ không khuyến khích đầu tư mạo hiểm nếu không có các thể chế chính thống.
Họ sẽ nản lòng nếu bị buộc tuân thủ quá nhiều quy tắc, yêu -24- cầu về thủ tục, phải dành thời gian và tiền bạc đáng kể để hoàn thành thủ tục (Soto, 2000). Tuy nhiên, môi trường thể chế thuận lợi sẽ giảm bớt rào cản và khuyến khích tiềm năng khởi sự kinh doanh (Baumol & cộng sự, 2009). Sự chấp nhận (legitimacy) và khởi nghiệp: Lý thuyết thể chế cũng đã hình thành nền tảng cho việc làm thế nào để tạo ra các sản phẩm/dịch vụ mới và được xã hội “chấp nhận” đối với các dự án đầu tư mạo hiểm. Để làm được điều này, dự án đó phải tuân thủ các hoạt động hợp pháp.
Môi trường thể chế giúp gia tăng nhận thức (cognitive) và sự chấp nhận, đó là tiêu chí rất quan trọng cho các DNKN gia tăng sự tồn tại (Ahlstrom & Bruton, 2001). Sự tiếp cận nguồn lực của DNKN ít hơn so với các doanh nghiệp đã thành lập vì kết quả hoạt động trong quá khứ cung cấp tính hợp pháp. Các doanh nghiệp đã thành lập có thể sử dụng kết quả hoạt động trong quá khứ để có được “sự chấp nhận” và tiếp cận nguồn lực. Còn đối với dự án đầu tư mạo hiểm, điều này là không thể vì kết quả hoạt động trong quá khứ còn hạn chế hoặc không có.
Lý thuyết thể chế giúp làm sáng tỏ và xây dựng tính hợp pháp cho đầu tư mạo hiểm mới (Oliver, 1995). Đặc điểm của thể chế trong nền kinh tế chuyển đổi Bảng 2. Khung lý thuyết thể chế trong nền kinh tế chuyển đổi Thể chế Trước chuyển đổi Trong giai đoạn chuyển đổi Thiếu khung pháp lý đáng Chế độ kế hoạch tập trung tin cậy Ràng buộc/thể chế chính Thiếu cấu trúc chính trị ổn thống Kiểm soát quan liêu định (Formal constraints) Thiếu các chiến lược thị trường Thể chế không chính thống Mạng lưới và trao đổi cá Mạng lưới và trao đổi cá (Informal constraints) nhân nhân Nguồn: Peng (2000, trang 47) Đặc điểm về thể chế chính thống trong nền kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng còn yếu, tức là hệ thống chính sách, pháp luật, sự thực thi pháp -25- luật, ý thức tuân thủ pháp luật và sự sẵn có thông tin chưa được hoàn thiện (xem Bảng 2.1) North (1990) đề nghị rằng, trong tình huống thể chế chính thống thất bại thì thể chế không chính thống sẽ ra đời để giảm bớt sự không chắc chắn và cung cấp sự kiên định (constancy) cho các cá nhân và tổ chức. Thể chế không chính thống đóng vai trò lớn hơn trong việc điều tiết các trao đổi kinh tế ở các quốc gia trong thời gian chuyển đổi và có ảnh hưởng đáng kể đến cả hành vi/chiến lược của các nhà quản lý, cũng như tạo ra các ràng buộc chính thức mới (Peng & Heath, 1996, trang 504).