Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao tại một số tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam" được tác giả Bùi Nhật Lê Uyên thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đoàn Thị Hồng Vân, thuộc chuyên ngành Kinh doanh thương mại (mã số: 93 40 121).
Về tính cấp thiết, công nghiệp công nghệ cao giữ vai trò then chốt đối với sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời là khu vực chịu áp lực cạnh tranh cao đòi hỏi phải liên tục nghiên cứu và phát triển (R&D). Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2016), năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ, manh mún. Thực tế chi tiêu cho R&D của Việt Nam bình quân chỉ đạt khoảng 0,26% GDP; trong đó, khảo sát tại các tỉnh phía Nam ghi nhận có tới 49% doanh nghiệp công nghệ cao phân bổ dưới 5% doanh thu cho R&D, và 52% doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào hoạt động tiếp thị, quan hệ đối tác hơn là nghiên cứu chiều sâu.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định xuất phát từ ba vấn đề chính:
- Thứ nhất, sự bất đồng trong y văn quốc tế về chiều hướng tác động của Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) đến đổi mới (Tidd và cộng sự, 1997 cho rằng TQM cản trở đổi mới do tối ưu hóa chi phí; trong khi Kanji, 1996 và Gustafson và Hundt, 1995 khẳng định TQM thúc đẩy văn hóa cải tiến).
- Thứ hai, các thang đo quốc tế về hỗ trợ của Chính phủ, nguồn nhân lực nội bộ và năng lực đổi mới được xây dựng tại các nước phát triển, chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các quốc gia đang phát triển.
- Thứ ba, sự khan hiếm các công trình nghiên cứu định lượng kiểm định mô hình năng lực đổi mới và so sánh sự khác biệt giữa hai khu vực doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định các nhân tố và đánh giá mức độ tác động của chúng đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao, kiểm định tại một số tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam.
Bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố dựa trên cơ sở lý thuyết, từ đó xác định các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới.
- Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực đổi mới thông qua kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu, trong đó làm rõ vai trò của nhân tố quản trị chất lượng toàn diện (TQM).
- Phát triển thang đo theo hướng khám phá và bổ sung biến quan sát mới cho một số nhân tố chưa có thang đo hoàn chỉnh khi kiểm định tại miền Nam Việt Nam, cụ thể là nhân tố hỗ trợ từ Chính phủ, nguồn nhân lực nội bộ và năng lực đổi mới.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực đổi mới trong tương quan so sánh giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI dựa trên kiểm định sự khác biệt.
Bốn câu hỏi nghiên cứu tương ứng được đặt ra:
- Những nhân tố nào tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao, trường hợp kiểm định tại miền Nam Việt Nam?
- Mối tương quan và mức độ tác động giữa các nhân tố đó đến năng lực đổi mới được hình thành và thể hiện trong nghiên cứu này như thế nào, trong đó chiều tác động và mức độ ảnh hưởng của nhân tố quản trị chất lượng toàn diện (TQM) được làm rõ ra sao?
- Thang đo của nhân tố nào cần được phát triển, bổ sung và đo lường như thế nào cho phù hợp khi kiểm định tại các tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam?
- Sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực đổi mới giữa doanh nghiệp công nghệ cao nội địa và doanh nghiệp công nghệ cao FDI được thể hiện như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực đổi mới và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới tại doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao.
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận năng lực đổi mới ở cấp độ doanh nghiệp, giới hạn đo lường ở hai thành phần: năng lực đổi mới sản phẩm và năng lực đổi mới quy trình (dựa trên phân loại của OECD, 2005 và Lugones, 2012).
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại các địa bàn trọng điểm phía Nam gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu; tập trung vào các nhóm ngành: điện tử và vi điện tử; cơ khí chính xác và tự động hóa; công nghệ thông tin và viễn thông; dược phẩm và công nghệ sinh học; công nghệ nano và năng lượng; dịch vụ công nghệ cao.
- Phạm vi thời gian: Khung lý thuyết tổng hợp từ 1911 đến 2017; dữ liệu khảo sát sơ cấp phản ánh hoạt động của doanh nghiệp trong giai đoạn 2012–2014; các hàm ý quản trị định hướng cho giai đoạn 2019–2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu quốc tế và trong nước về đổi mới sáng tạo, nhận diện các luận điểm chính:
Về nghiên cứu quốc tế:
- Tác động của TQM: Trường phái phủ định của Tidd và cộng sự (1997) chỉ ra TQM chú trọng kiểm soát quy trình và cắt giảm chi phí nên làm giảm nguồn lực cho R&D; ngược lại, Kanji (1996) và Gustafson và Hundt (1995) lập luận TQM tạo nền tảng định hướng khách hàng và cải tiến liên tục hỗ trợ đổi mới.
- Nhân tố hỗ trợ của Chính phủ: Các nghiên cứu tại các nước phát triển chủ yếu đo lường sự hỗ trợ thông qua việc tham gia các dự án R&D chính thức quy mô lớn. Tuy nhiên, đối với các nền kinh tế đang phát triển (Williamson, 2015), các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tiếp cận thêm các hình thức hỗ trợ phi chính thức.
- Nguồn nhân lực nội bộ: Bantel và Jackson (1989), Koroglu và Eceral (2015) nhấn mạnh trình độ học vấn và chuyên môn cao là động lực đổi mới; trong khi Dakhli và De Clercq (2004) cho rằng kinh nghiệm thực tiễn tích lũy có giá trị tác động lớn hơn.
- Năng lực hấp thụ và mạng lưới cộng tác: Spithoven và cộng sự (2013) chỉ ra các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp rào cản khai thác tri thức bên ngoài do hạn chế về năng lực hấp thụ. Jantunen (2005) chứng minh năng lực sử dụng tri thức và tính năng động môi trường thúc đẩy đổi mới. Rangus và Slavec (2017), Hung và cộng sự (2010), Kang và Park (2011), Tseng và cộng sự (2011) củng cố vai trò của tri thức tổ chức và liên kết mở.
- Đo lường năng lực đổi mới: Các công trình của Kanji (1996), Tang (1998), Prajogo và Sohal (2003) thảo luận về việc sử dụng số lượng bằng sáng chế, chi tiêu R&D hay các chỉ số định tính.
Về nghiên cứu trong nước:
- Các công trình của Diệu Minh (2010), Nguyễn Bích Thủy (2011), Đặng Thu Giang (2010) và Nguyễn Việt Hòa (2010) chủ yếu phân tích thực trạng chính sách khoa học công nghệ hoặc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế.
- Khảo sát của Phùng Xuân Nhạ và Lê Quân (2013) trên 583 doanh nghiệp chỉ ra thực trạng 72% doanh nghiệp chưa có chính sách nhân sự cho đổi mới, 78% thiếu ngân sách đầu tư sản phẩm mới, gần 80% chưa có liên kết R&D. Báo cáo của World Bank và OECD (2016) khuyến nghị Việt Nam cần tập trung đầu tư công nghệ theo chiều sâu.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
- Giải quyết mâu thuẫn lý thuyết về chiều tác động của TQM đối với năng lực đổi mới trong ngành công nghệ cao tại một nền kinh tế chuyển đổi.
- Bổ sung các biến quan sát mới nhằm hoàn thiện thang đo cho ba khái niệm: Hỗ trợ của Chính phủ (GS), Nguồn nhân lực nội bộ (IHC) và Năng lực đổi mới (IC) phù hợp với thực tiễn miền Nam Việt Nam.
- So sánh thực nghiệm sự khác biệt về cơ chế tác động của các nhân tố đến năng lực đổi mới giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết nền và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của bốn nền tảng lý thuyết:
- Lý thuyết đổi mới của Joseph Schumpeter (1911, 1934, 1939): Nhấn mạnh đổi mới là động lực tăng trưởng kinh tế qua 5 hình thức (sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới, nguồn nguyên liệu mới, thị trường mới, cơ cấu tổ chức mới) và cơ chế "sáng tạo mang tính phá hủy" (Creative destruction), làm tiền đề cho hai nhân tố Năng lực hấp thụ và Sự học hỏi của tổ chức.
- Lý thuyết của Nelson (1977, 1982, 1993): Phân tích tính không chắc chắn của công nghệ mới và nhấn mạnh vai trò tương tác mạng lưới giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học cùng nguồn nhân lực chất lượng cao, đặt nền tảng cho nhân tố Mạng lưới cộng tác và Nguồn nhân lực nội bộ.
- Lý thuyết Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS): Kế thừa quan điểm của Freeman và Perez (1988), Lundvall (1992), Edquist và Lundvall (1993), Niosi và cộng sự (1993), Metcalfe (1995) và OECD (1997b), làm rõ vai trò điều tiết của Nhà nước và liên kết thể chế, hình thành cơ sở cho nhân tố Hỗ trợ của Chính phủ và Mạng lưới cộng tác.
- Lý thuyết năng lực đổi mới: Dựa trên nghiên cứu của Suarez-Villa (1990) (kết nối văn hóa cải tiến liên tục, quản trị chất lượng toàn diện với năng lực đổi mới), Lý thuyết năng lực cốt lõi (Hamel và Prahalad, 1994) và Lý thuyết năng lực động (Teece và Pisano, 1994).
Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm:
- Biến phụ thuộc: Năng lực đổi mới (IC) (được cấu thành từ Đổi mới sản phẩm và Đổi mới quy trình).
- Sáu biến độc lập: Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), Sự học hỏi của tổ chức (OL), Hỗ trợ của Chính phủ (GS), Mạng lưới cộng tác (CN), Năng lực hấp thụ kiến thức (AC), Nguồn nhân lực nội bộ (IHC).
- Biến kiểm soát / biến phân nhóm: Tình trạng sở hữu doanh nghiệp (doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật định tính và định lượng:
| Giai đoạn nghiên cứu |
Kỹ thuật / Phương pháp |
Quy mô mẫu |
Mục đích thực hiện |
| Định tính |
Phỏng vấn tay đôi (In-depth interview) và Thảo luận nhóm tập trung (Focus group) |
Các chuyên gia và nhà quản lý doanh nghiệp công nghệ cao |
Hiệu chỉnh nội dung các biến quan sát; khám phá bổ sung 2 biến quan sát cho thang đo Hỗ trợ của Chính phủ (GS) và 2 biến quan sát cho Nguồn nhân lực nội bộ (IHC); chuẩn hóa thang đo Năng lực đổi mới (IC). |
| Định lượng sơ bộ |
Khảo sát bằng bảng câu hỏi; phân tích Cronbach's alpha và EFA |
89 nhà quản lý đại diện cho 89 doanh nghiệp |
Đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị hội tụ của các thang đo; loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu thống kê. |
| Định lượng chính thức |
Khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc |
380 nhà quản lý đại diện cho 380 doanh nghiệp công nghệ cao |
Kiểm định thang đo qua EFA, CFA; kiểm định mô hình và giả thuyết bằng SEM; phân tích đa nhóm theo tình trạng sở hữu trên phần mềm SPSS 20 và AMOS 20. |
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản luật (Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12), báo cáo thống kê của Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Sài Gòn (SHTP, 2017), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), các báo cáo của World Bank và OECD (2016).
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra chọn mẫu 380 doanh nghiệp công nghệ cao tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 thiết lập khung tổng thể cho luận án, trình bày lý do lựa chọn đề tài và tính cấp thiết trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế. Tác giả phân tích bối cảnh lý thuyết quốc tế và thực tiễn Việt Nam, chỉ rõ các hạn chế trong năng lực R&D của doanh nghiệp công nghệ cao miền Nam. Chương này xác định rõ 4 mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian (4 tỉnh/thành phía Nam), phạm vi thời gian (2012–2014) và các lĩnh vực công nghệ cao khảo sát. Đồng thời, chương 1 tóm lược phương pháp hỗn hợp và trình bày các điểm đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 phân tích hệ thống các khái niệm: đổi mới (theo Schumpeter, Gordon và McCann, Damanpour và Aravind, Cao và Zhao, Alexiev và cộng sự, Bryan và Lemus), phân loại đổi mới (gia tăng và cấp tiến; đổi mới sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing), năng lực đổi mới (Suarez-Villa, Papaconstantinou, Szeto, Lawson và Samson, Branzei và Vertinsky) và khái niệm công nghiệp công nghệ cao theo Luật Công nghệ cao 2008. Chương 2 hệ thống hóa 4 lý thuyết nền (Schumpeter, Nelson, NIS, Năng lực đổi mới) và phân tích 5 mô hình thực nghiệm (Jantunen, 2005; Tseng và cộng sự, 2011; Rangus và Slavec, 2017; Hung và cộng sự, 2010; Kang và Park, 2011). Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết gồm 6 biến độc lập, 1 biến phụ thuộc và biến kiểm soát hình thức sở hữu.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu hỗn hợp và quy trình hiệu chỉnh thang đo. Nghiên cứu định tính qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm giúp hiệu chỉnh ngôn ngữ, bổ sung các biến quan sát đặc thù cho thang đo GS và IHC, đồng thời lượng hóa thang đo IC thông qua số lượng đổi mới sản phẩm và quy trình giai đoạn 2012–2014. Nghiên cứu định lượng sơ bộ trên mẫu $n = 89$ được phân tích qua Cronbach's alpha và EFA (sử dụng phép trích Principal Axis Factoring), loại bỏ các biến không đạt chuẩn và hoàn thiện bảng câu hỏi cho giai đoạn khảo sát chính thức.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày kết quả phân tích trên tập dữ liệu chính thức $n = 380$ doanh nghiệp (gồm 32,9% điện tử/vi điện tử; 26,1% CNTT và viễn thông; 23,4% cơ khí chính xác và tự động hóa; 7,6% dược phẩm/công nghệ sinh học; 4,5% công nghệ nano/năng lượng; 5,5% dịch vụ công nghệ cao).
- Đánh giá thang đo qua EFA và CFA: Xác nhận độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích và tính phân biệt của các khái niệm TQM, OL, AC, GS, IHC, CN và IC.
- Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM): Mô hình đạt các chỉ số tương thích thống kê. Kết quả kiểm định chấp thuận 5 giả thuyết tác động dương trực tiếp đến năng lực đổi mới: TQM, CN, AC, IHC và GS; giải thích rõ chiều tác động tích cực của TQM trong bối cảnh công nghệ cao.
- Phân tích đa nhóm (Multi-group SEM): Kiểm định sự khác biệt giữa hai nhóm sở hữu cho thấy sự phân hóa rõ nét trong cơ chế tác động. Đối với doanh nghiệp nội địa, ba nhân tố Mạng lưới cộng tác (CN), Nguồn nhân lực nội bộ (IHC) và Hỗ trợ của Chính phủ (GS) thể hiện mức độ tác động mạnh nhất. Đối với doanh nghiệp FDI, ba nhân tố Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), Mạng lưới cộng tác (CN) và Hỗ trợ của Chính phủ (GS) giữ vai trò chi phối.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị của nghiên cứu
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính và đưa ra 5 nhóm hàm ý quản trị cho giai đoạn 2019–2025: (1) Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp công nghệ cao; (2) Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học thúc đẩy đổi mới; (3) Nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua TQM; (4) Nâng cao năng lực hấp thụ kiến thức; (5) Tăng cường vai trò hỗ trợ của Chính phủ đối với hoạt động đổi mới sáng tạo. Chương này cũng chỉ rõ các hạn chế về mặt dữ liệu và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả kiểm định mô hình
Kết quả phân tích SEM chính thức và phân tích đa nhóm được tổng hợp như sau:
| Nhân tố tác động |
Tác động đến Năng lực đổi mới (Toàn mẫu) |
Mức độ tác động tại Doanh nghiệp nội địa |
Mức độ tác động tại Doanh nghiệp FDI |
| Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) |
Tác động dương, có ý nghĩa thống kê |
Tác động thứ yếu |
Tác động mạnh, giữ vai trò chủ đạo |
| Mạng lưới cộng tác (CN) |
Tác động dương, có ý nghĩa thống kê |
Tác động mạnh, giữ vai trò chủ đạo |
Tác động mạnh, giữ vai trò chủ đạo |
| Năng lực hấp thụ kiến thức (AC) |
Tác động dương, có ý nghĩa thống kê |
Tác động có ý nghĩa |
Tác động có ý nghĩa |
| Nguồn nhân lực nội bộ (IHC) |
Tác động dương, có ý nghĩa thống kê |
Tác động mạnh, giữ vai trò chủ đạo |
Tác động thứ yếu |
| Hỗ trợ của Chính phủ (GS) |
Tác động dương, có ý nghĩa thống kê |
Tác động mạnh, giữ vai trò chủ đạo |
Tác động mạnh, giữ vai trò chủ đạo |
| Sự học hỏi của tổ chức (OL) |
Không thể hiện tác động trực tiếp có ý nghĩa trong mô hình SEM cuối cùng |
Không có sự khác biệt vượt trội |
Không có sự khác biệt vượt trội |
Những đóng góp mới của luận án
Về mặt học thuật và lý luận:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về năng lực đổi mới trong ngành công nghiệp công nghệ cao tại một quốc gia đang phát triển.
- Giải quyết tranh luận học thuật về vai trò của Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), khẳng định TQM tác động cùng chiều đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
- Điều chỉnh và phát triển thang đo: Bổ sung 2 biến quan sát mới cho thang đo Hỗ trợ của Chính phủ (GS) (phản ánh các kênh hỗ trợ phi chính thức) và 2 biến quan sát mới cho thang đo Nguồn nhân lực nội bộ (IHC) (phản ánh kinh nghiệm thực tiễn và tính tương thích công nghệ), đồng thời chuẩn hóa thang đo Năng lực đổi mới (IC) dựa trên số lượng đổi mới sản phẩm và quy trình cụ thể.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm về thực trạng phân bổ ngân sách R&D và năng lực đổi mới của 380 doanh nghiệp công nghệ cao tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
- Xác định sự khác biệt trong cơ chế tác động giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI, giúp các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn nội tại: doanh nghiệp nội địa cần tập trung vào nhân lực nội bộ và mạng lưới hợp tác, trong khi doanh nghiệp FDI tối ưu hóa thông qua quy trình TQM và liên kết thể chế.
Các nhóm kiến nghị và hàm ý quản trị:
- Phát triển nguồn nhân lực: Doanh nghiệp cần phối hợp với trường đại học đào tạo theo nhu cầu thực tế, chú trọng kỹ năng ứng dụng và kinh nghiệm thực hành hơn là lý thuyết thuần túy; xây dựng chính sách đãi ngộ giữ chân nhân sự kỹ thuật.
- Mở rộng mạng lưới cộng tác: Tăng cường liên kết nghiên cứu giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề và các đối tác trong chuỗi cung ứng.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất qua TQM: Áp dụng các nguyên tắc quản trị chất lượng toàn diện, cải tiến liên tục quy trình sản xuất nhằm giảm thiểu lãng phí và tạo nền tảng cho việc chuẩn hóa các sáng kiến đổi mới.
- Nâng cao năng lực hấp thụ: Đầu tư cho hoạt động R&D nội bộ nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, giải mã và thương mại hóa các công nghệ chuyển giao từ bên ngoài.
- Phát huy vai trò hỗ trợ của Chính phủ: Hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đầu tư cơ sở hạ tầng phòng thí nghiệm dùng chung và mở rộng các gói hỗ trợ kỹ thuật, vốn vay cho các dự án công nghệ cao vừa và nhỏ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án tự xác định các hạn chế sau:
- Về phạm vi không gian: Dữ liệu khảo sát mới tập trung tại bốn tỉnh/thành trọng điểm phía Nam (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu), chưa bao quát các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và miền Trung, do đó tính đại diện cho toàn bộ doanh nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam còn chịu giới hạn nhất định.
- Về phạm vi đo lường: Luận án chỉ tập trung đo lường năng lực đổi mới ở hai khía cạnh là đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình, chưa đi sâu đánh giá đổi mới tổ chức và đổi mới marketing.
- Về dạng dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu cắt ngang (cross-sectional data) phản ánh giai đoạn 2012–2014, chưa theo dõi được biến động dài hạn của năng lực đổi mới theo chuỗi thời gian (longitudinal data).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra sang các khu công nghệ cao và khu công nghiệp tại các tỉnh phía Bắc (như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng) và miền Trung (Đà Nẵng).
- Mở rộng cấu trúc đo lường năng lực đổi mới bao gồm đầy đủ 4 chiều cạnh theo chuẩn của OECD (sản phẩm, quy trình, tổ chức, marketing).
- Thực hiện nghiên cứu định lượng theo thời gian để đánh giá độ trễ và tác động dài hạn của các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ và việc áp dụng TQM đến năng suất đổi mới.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo trong chuyên ngành Kinh doanh thương mại, Quản trị kinh doanh và Quản lý khoa học - công nghệ. Công trình cung cấp quy trình nghiên cứu hỗn hợp mẫu mực, từ việc phỏng vấn định tính để bổ sung biến quan sát đến kiểm định định lượng qua CFA, SEM và phân tích đa nhóm (Multi-group analysis).
- Đối với các nhà hoạch định chính sách: Ban Quản lý các Khu công nghệ cao (như SHTP), Sở Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ có thể tham khảo các phát hiện về sự bất cân xứng trong chi tiêu R&D và nhu cầu hỗ trợ phi chính thức của doanh nghiệp vừa và nhỏ để điều chỉnh chính sách ưu đãi.
- Đối với lãnh đạo doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao: Cung cấp khung đối chuẩn thực tế giúp doanh nghiệp nội địa và FDI xác định đúng trọng tâm đầu tư (TQM, nhân lực nội bộ, hấp thụ tri thức hay mở rộng mạng lưới cộng tác) nhằm gia tăng hiệu quả đổi mới sản phẩm và quy trình.
Câu hỏi thường gặp
1. Mô hình nghiên cứu chính thức của luận án chấp thuận những nhân tố nào tác động đến năng lực đổi mới?
Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) đã chứng minh và chấp thuận 5 nhân tố có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê đến năng lực đổi mới (IC) của doanh nghiệp công nghệ cao, bao gồm: Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), Mạng lưới cộng tác (CN), Năng lực hấp thụ kiến thức (AC), Nguồn nhân lực nội bộ (IHC) và Hỗ trợ của Chính phủ (GS).
2. Cơ chế tác động đến năng lực đổi mới khác nhau như thế nào giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI?
Phân tích đa nhóm cho thấy: ở khu vực doanh nghiệp nội địa, ba nhân tố Mạng lưới cộng tác (CN), Nguồn nhân lực nội bộ (IHC) và Hỗ trợ của Chính phủ (GS) thể hiện mức độ tác động mạnh nhất. Ngược lại, ở khu vực doanh nghiệp FDI, ba nhân tố giữ vai trò chủ đạo là Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), Mạng lưới cộng tác (CN) và Hỗ trợ của Chính phủ (GS).
3. Luận án đã phát triển và bổ sung thang đo cho những nhân tố nào so với thang đo gốc?
Thông qua nghiên cứu định tính, tác giả đã bổ sung 2 biến quan sát mới cho thang đo Hỗ trợ của Chính phủ (GS), 2 biến quan sát mới cho thang đo Nguồn nhân lực nội bộ (IHC), đồng thời hoàn thiện thang đo định lượng cho Năng lực đổi mới (IC) bằng cách đo lường cụ thể số lượng đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình của doanh nghiệp trong giai đoạn 3 năm (2012–2014).
4. Thực trạng đầu tư cho R&D tại các doanh nghiệp công nghệ cao miền Nam được luận án ghi nhận như thế nào?
Khảo sát thực tế của luận án cho thấy: 49% doanh nghiệp dành dưới 5% doanh thu cho R&D; 26% doanh nghiệp phân bổ từ 5% đến 15%; 18% doanh nghiệp chi tiêu từ 16% đến 30%; và chỉ có 7% doanh nghiệp dành trên 30% doanh thu cho R&D (chủ yếu là các doanh nghiệp FDI 100% vốn nước ngoài như Datalogic Scanning, Jabil, Nidec, Sonion và một số ít doanh nghiệp nội địa như Nanogen, FPT Software).
5. Luận án đo lường khái niệm năng lực đổi mới dựa trên những thành phần cụ thể nào?
Luận án thu hẹp phạm vi khái niệm năng lực đổi mới ở cấp độ doanh nghiệp và tập trung đo lường thông qua 2 thành phần chính là năng lực đổi mới sản phẩm (giới thiệu sản phẩm mới hoặc cải tiến đáng kể sản phẩm hiện có) và năng lực đổi mới quy trình (áp dụng quy trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ mới, cải tiến công nghệ và thiết bị).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Nhật Lê Uyên đã xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh trọng điểm miền Nam Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trên cỡ mẫu khảo sát 380 doanh nghiệp, công trình đã khẳng định vai trò tích cực của 5 nhân tố: Quản trị chất lượng toàn diện, Mạng lưới cộng tác, Năng lực hấp thụ kiến thức, Nguồn nhân lực nội bộ và Sự hỗ trợ của Chính phủ đối với năng lực đổi mới sản phẩm và quy trình. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ sự khác biệt trong cơ chế tác động giữa khu vực doanh nghiệp nội địa và FDI, cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất 5 nhóm hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động đổi mới sáng tạo trong bối cảnh hội nhập kinh tế.