CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về tác động trực tiếp của văn hóa tổ chức tới đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu về văn hóa tổ chức và đổi mới sáng tạo bắt đầu xuất hiện nhiều từ những năm 1980, cho đến nay các nghiên cứu về mối quan hệ này đã có sự phát triển và biến đổi theo thời gian. Từ những năm 1980 đến năm 2000, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào việc tìm hiểu các giá trị văn hóa cụ thể tác động đến sự đổi mới ( ví dụ như tính cởi mở, trao quyền,.
Trong những năm 2010, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành sản xuất truyền thống, khiến số lượng lớn các doanh nghiệp chuyển hướng sang áp dụng công nghệ cao và tập trung vào xây dựng khả năng học hỏi không ngừng. Văn hóa định hướng đổi mới sáng tạo và định hướng học tập chiếm vị trí quan trọng trong nghiên cứu, và mô hình giá trị cạnh tranh đã được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn này (Demirci, 2013). Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây bắt đầu khám phá vai trò của văn hóa tổ chức trong mối quan hệ phức tạp giữa đổi mới sáng tạo và các yếu tố khác như: phong cách lãnh đạo, khả năng hấp thụ, chia sẻ tri thức. Khung giá trị cạnh tranh đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm điều tra mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và đổi mới trong bối này (ví dụ Salih Yesil và Ahmet Kaya, 2012; Naranjo‐Valencia, 2012).
Dựa trên lý thuyết về khung giá trị cạnh tranh, so sánh mức độ phân cực của mỗi doanh nghiệp về tính linh hoạt so với sự kiểm soát và mức độ tập trung nội bộ so với bên ngoài, Robert Quinn và Kim Cameron đã chia văn hóa doanh nghiệp thành bốn loại hình cơ bản: Văn hóa gia đình: Mô hình này chú trọng đến việc tạo dựng một môi trường thân thiện giữa tất cả các cấp quản trị, từ lãnh đạo tới nhân viên. Văn hóa sáng tạo: là môi trường tổ chức làm việc năng động, sáng tạo, mọi người đều sẵn sàng hướng ra bên ngoài và chấp nhận rủi ro. Văn hóa thứ bậc: Đây là mô hình làm việc có tổ chức và được quản lý một cách chặt chẽ, mọi người phải tuân thủ theo các chính sách, thủ tục, quy định được ban hành một cách nghiêm ngặt. Văn hóa cạnh tranh: Tổ chức có định hướng dựa trên kết quả sau cùng, quan tâm lớn nhất là tập trung hoàn thành công việc một cách hiệu quả.
Một số nghiên cứu điển hình như: Nghiên cứu của Salih Yesil và Ahmet Kaya (2012). Mô hình được thực hiện tại 300 công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó các công ty trong lĩnh vực thuế chiếm 47%), lĩnh vực thực phẩm chiếm 33%, các lĩnh vực khác chiếm 13%. Mô hình sử dụng khung giá 10 trị cạnh tranh về văn hóa của (Cameron, 2004) bao gồm bốn thành phần văn hóa sau: (1) văn hóa gia đình, (2) văn hóa sáng tạo, (3) văn hóa thứ bậc, (4) văn hóa thị trường và mức độ ảnh hưởng đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp. Kết quả phân tích cho thấy, chỉ có nhóm văn hoá sáng tạo tác động tích đến cực đến đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, văn hóa gia đình và văn hóa thứ bậc không ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo. Việc giảm kích thước văn hóa thị trường trong phân tích đã dẫn đến không có thử nghiệm nào về giả thuyết nghiên cứu. Kết quả tổng thể cho thấy rằng một số đặc điểm liên quan đến văn hóa doanh nghiệp có tác dụng nổi bật hơn so với các thành phần khác.1: Mô hình nghiên cứu của Yesil và Kaya (2012) Nguồn: Yeşil, S. (2008) Dựa trên Khung giá trị cạnh tranh (CVF), mục đích của nghiên cứu nhằm điều tra mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và hiệu suất.
Quan điểm về sự nhất quán và sự cân bằng đã được áp dụng để xem xét mối quan hệ. Dựa trên một mẫu nghiên cứu gồm 270 công ty ở Trung Quốc, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự nhất quán về ảnh hưởng của văn hóa tổ chức và môi trường bên ngoài đến hoạt động của tổ chức. Bên cạnh đó, sự cân bằng của văn hóa tổ chức được tìm thấy có tương quan thuận với hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên nghiên cứu có hạn chế là số liệu thu thập từ các học viên của chương trình EDB, do đó mẫu là các công ty hoạt động tốt và có nền văn hóa phát triển của Trung Quốc.
(2015), mục tiêu của nghiên cứu là xác định loại mô hình văn hóa thúc đẩy hay cản trở hoạt động đổi mới trong các công ty của Malaysia. Dữ liệu 11 nghiên cứu được thu thập từ 339 nhà quản lý cấp trung và cấp cao nhất làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao của Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy văn hóa có tính tích hợp cao cho phép đổi mới mở có giới hạn, nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến đổi mới mở ngoài phạm vi. Bên cạnh đó, văn hóa thứ bậc được phát hiện là làm chậm sự đổi mới mở cả trong và ngoài giới hạn.
(2012), Sử dụng khung giá trị cạnh tranh của Quinn và Cameron (1999) để hiểu mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và đổi mới sản phẩm đồng thời khám phá vai trò trung gian của hành vi làm việc đổi mới của nhân viên trong mối quan hệ này. Dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 250 nhân viên, thuộc khu công nghiệp của Tây Ban Nha, các kết quả chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa văn hóa sáng tạo và tác động tiêu cực của văn hóa thứ bậc đổi tới đổi mới sản phẩm. Tuy nhiên không có mối liên hệ giữa hai loại hình văn hóa còn lại là văn hóa gia đình và văn hóa trị trường. Nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa tổ chức về việc thực hiện các đổi mới trong các doanh nghiệp nhỏ.
Khung giá trị cạnh tranh của Cameron và Quinn được áp dụng để nắm bắt văn hóa tổ chức. Phân tích thực nghiệm được thực hiện bằng cách sử dụng mẫu gồm 194 doanh nghiệp nhỏ từ hai khu vực ở Paraguay: khu vực Asunción và Trung tâm Phòng ban. Văn hóa tổ chức với định hướng bên ngoài (bậc thầy và thị trường) được cho là có một giá trị tích cực đáng kể tác động đến sự đổi mới. Tuy nhiên, tác dụng của tổ chức văn hóa về các loại đổi mới cụ thể (sản phẩm, quy trình, tổ chức và tiếp thị) khác nhau.
Văn hóa thứ bậc cho thấy ảnh hưởng tích cực đến đổi mới quy trình Duréndez, Madrid‐Guijarro, và García‐Pérez de Lema (2011), mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu về văn hóa tổ chức và quản lý của các công ty gia đình. Thông qua việc xác định văn hóa đổi mới của doanh nghiệp gia đình và đánh giá mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, việc sử dụng hệ thống kiểm soát quản lý (MCS) và ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp gia đình SME. Phân tích thực nghiệm trên một mẫu các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tây Ban Nha (285 doanh nghiệp gia đình và 151 doanh nghiệp phi gia đình). Kết quả cho thấy (1) doanh nghiệp gia đình có văn hóa thứ bậc hơn và mức độ sử dụng MCS ít hơn so với các doanh nghiệp không phải gia đình, và (2) văn hóa đổi mới và việc sử dụng MCS có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp gia đình.
12 Donate và Guadamillas (2011) dựa trên dữ liệu khảo sát tại 111 công ty Tây Ban Nha chứng minh vai trò điều tiết của các yếu tố văn hóa, lãnh đạo và chính sách nguồn nhân lực đối với mối quan hệ giữa quản trị tri thức và kết quả đổi mới sáng tạo. Lau và Ngo (2004) Nghiên cứu này phác thảo vai trò quan trọng của văn hóa tổ chức trong mối liên hệ giữa hệ thống nhân sự và phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới. Các phát hiện thực nghiệm từ cuộc khảo sát 332 công ty ở Hồng Kông đã xác nhận rằng văn hóa tổ chức đóng vai trò trung gian giữa hệ thống nhân sự của công ty và sự đổi mới sản phẩm. Nghiên cứu của Laforet (2015) Trong nghiên cứu thực nghiệm của các doanh nghiệp SME gia đình, Laforet nhận thấy rằng văn hóa kinh doanh (định hướng bên ngoài, linh hoạt, mở và định hướng dài hạn) có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo trong các công ty của Anh.1: Tổng hợp các nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và đổi mới sáng tạo Mối quan Loại hình Nền kinh tế Nền kinh tế phát triển Quốc Gia hệ đổi mới văn hóa đang phát triển và sáng tạo Zhang.
(2008) Yesil Trung Quốc Tích cực và Kaya (2012) Thổ Nhĩ Kỳ Tích cực Naqshbvà i. (2015) Malaysia Espín, Jiménez, và Văn hóa Costa (2014) Tây Ban Nha Tích cực gia đình Duréndez, Madrid‐ Tây Ban Nha Tích cực Guijarro, và García‐Pérez Anh Tiêu cực de Lema (2011) Ogbonna 5 quốc gia Tiêu cực và Harris (2000) Deshpandé và Farley (2004) Tseng (2010) Trung Quốc Tích cực Yesil và Kaya Thổ Nhĩ Kỳ Tích cực Văn hóa (2012) sáng tạo Lau và Ngo (2004) Hong Kong Tích cực Duréndez. (2011) Tây Ban Nha Tích cực Roldán. (2012) Tây Ban Nha Tích cực 13 Mối quan Loại hình Nền kinh tế Nền kinh tế phát triển Quốc Gia hệ đổi mới văn hóa đang phát triển và sáng tạo Naranjo ‐Valencia.
Tây Ban Nha Tích cực (2012) Tây Ban Nha Tích cực Espín. (2015) Malaysia Tiêu cực Yesil và Kaya (2012) Thổ Nhĩ Kỳ Tiêu cực Văn hóa Zhang. (2008) Trung Quốc Tích cực thứ bậc Ogbonna và Harris (2000) Anh Tiêu cực Duréndez. (2011) Tây Ban Nha Tiêu cực Naranjo‐Valencia.
Loại văn hóa nổi trổi này sẽ tác động đến loại hình và mức độ đổi mới sáng tạo khác nhau trong các công ty. Thứ hai tác động của văn hóa tổ chức đối với sự đổi mới sáng tạo chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài liên quan đến môi trường thể chế xã hội mà công ty hoạt động, chẳng hạn như văn hóa quốc gia, lĩnh vực hoạt động và mức độ phát triển của lãnh thổ (Büschgens. 14 Tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có sự đồng thuận rất cao của loại hình văn hóa sáng tạo đến kết quả đổi mới sáng tạo, tuy nhiên các loại hình văn hóa khác chưa có sự đồng nhất. Chính vì lý do đó cần có thêm nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam để kiểm định mối quan hệ này.