Chương 1 trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài của nghiên cứu, mục tiêu, ý nghĩa và phương pháp nghiên cứu làm cơ sở và định hướng cho những nội dung tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ đề cập đến cơ sở khoa học, giải thích một số khái niệm cơ bản và xem xét các mô hình nghiên cứu có liên quan đã thực hiện trước đó để đưa ra mô hình đề xuất cho nghiên cứu này. Chia sẻ tri thức 2. Tri thức và thông tin Trong các tài liệu thì hai thuật ngữ “tri thức” và “thông tin” thường được sử dụng để thay thế lẫn nhau.
Một số tác giả cũng đã phân biệt hai thuật ngữ này (ví dụ như Blackler, 1995; Davenport và Prusak, 1998; Nonaka và Takeuchi, 1995; Pemberton, 1998) trong khi những người khác thì sử dụng chúng như hai thuật ngữ đồng nghĩa (ví dụ như Kogut và Zander, 1992; Stewart, 1997). Nghiên cứu này công nhận sự khác nhau giữa hai thuật ngữ “tri thức” và “thông tin”. Thông tin là một loại hình phản ánh sự vật, hiện tượng xung quanh con người. Ví dụ: thông tin về thời tiết, thông tin thời sự, thông tin về giá cả.
Những thông tin này được đúc kết qua việc học tập, truyền thụ, trao đổi, cảm nhận. Thông tin thường được lưu giữ dưới dạng văn bản, truyền miệng; đối với công nghệ thông tin thì thông tin còn được lưu dưới dạng thông tin điện tử như video, nhạc. Tri thức là tầm hiểu biết và kiến thức của con người, tri thức được đúc kết từ thực tế. Những dữ liệu thô được con người đúc kết và trở thành tri thức, và tri thức dùng cụ thể cho một mục đích nào đó nhằm tạo ra giá trị cho con người.
Davenport và Prusak (1998) định nghĩa “Tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin, và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức được tạo ra và ứng dụng trong đầu óc của những người có nó. Trong một tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các văn bản 10 và tài liệu, mà còn nằm trong thủ tục, quy trình, thông lệ, và nguyên tắc của tổ chức đó”. Với hai khái niệm trên ta thấy được rằng thông tin là nguồn gốc của tri thức.
Thông tin được con người đúc kết, lưu trữ, phân tích và dần dần hình thành nên tri thức về sự vật hiện tượng. Những tri thức của con người được lưu truyền dưới dạng thông tin và dần dần trở thành tri thức chung của con người. Nguồn tri thức là những sáng tạo của con người và mang lại lợi ích trong cuộc sống. Định nghĩa “tri thức” của Nonaka và Takeuchi (1995) có phạm vi rộng hơn và được cho là “một quá trình thường xuyên của con người trong việc biện minh cho niềm tin cá nhân đối với chân lý” (trang 58).
Theo các tác giả này, “thông tin” là một dòng chảy các thông điệp, và tri thức được tạo ra khi dòng chảy các thông điệp này tương tác với niềm tin và sự cam kết của chủ nhân những thông điệp trên. Những nghiên cứu trước đây đã xác định ba đặc trưng để phân biệt “tri thức” với “thông tin”. Đầu tiên, tri thức đóng vai trò là một quan điểm cụ thể, dự định hoặc lập trường của một cá nhân. Do đó, khác với thông tin, tri thức thuộc về niềm tin và cam kết.
Thứ hai, tri thức thường dẫn đến kết quả, điều đó có nghĩa là tri thức có liên quan đến hành động. Thứ ba, tri thức gắn liền với những bối cảnh và mối quan hệ cụ thể, do đó, nó có ý nghĩa. Polanyi (1966) đã phân loại tri thức thành hai dạng: tri thức hiện hữu và tri thức tiềm ẩn. Tri thức tiềm ẩn được hệ thống hóa và truyền đạt bằng một thể ngôn ngữ chính thức.
Tuy nhiên, tri thức tiềm ẩn rất khó được diễn đạt bằng ngôn ngữ chính thức mà thường thuộc về một cá nhân riêng biệt (Bartol và Srivastava, 2002). Tri thức hiện hữu và tiềm ẩn đều có thể được chia sẻ, chia sẻ tri thức hiện hữu thông qua giao tiếp bằng lời nói, chia sẻ tri thức tiềm ẩn thông qua việc xã hội hóa, quan sát hay học việc (Bartol và Srivastava, 2002). Để chuyển giao tri thức tiềm ẩn có hiệu quả đòi hỏi giao tiếp cá nhân rộng rãi và sự tin tưởng (Tobin, 1998). Khi tri thức tiềm ẩn được chứng thực, nó dẫn đến tri thức hiện hữu, thứ tri thức gây hại nhiều hơn lợi, dẫn đến các kho rác thông tin và thư viện trống rỗng (McDermott, 1999).
11 Tobin (1998) khám phá được rằng để duy trì vị trí dẫn đầu của một công ty trên thị trường thì các nhân viên công ty phải chia sẻ tri thức với nhau một cách có hiệu quả. Trong hầu hết thời gian, tri thức tiềm ẩn sẽ không được người khác nhận thấy. Do đó, để chia sẻ tri thức hiệu quả, đòi hỏi phải có sự giao tiếp hữu hiệu ở cấp độ cao và niềm tin lẫn nhau. Wang và Noe (2010) chỉ ra rằng những nhà nghiên cứu trước đây không thể đạt được sự đồng thuận về định nghĩa của thông tin và tri thức.
Một số tin rằng tất cả thông tin là tri thức, còn một số khác lại cho rằng tri thức thì rộng lớn hơn thông tin. Tri thức còn có thể được phân chia thành những dạng khác nhau dựa vào nội dung của chúng (Srivastava, 2001). Miller (1991) đề xuất rằng có thể phân loại tri thức thành năm dạng mà các nhân viên thường sử dụng, bao gồm: – Vai trò của thông tin về cách thức tiến hành một nhiệm vụ. – Vai trò của thông tin về sự kỳ vọng và trách nhiệm đối với công việc.
– Thông tin xã hội về cách tương tác với những người khác. – Thông tin tham khảo theo những chính sách của tổ chức. – Thông tin về thủ tục và hiệu suất liên quan đến việc một nhân viên thực hiện công việc của mình tốt đến mức nào. Dựa vào những hiểu biết về tri thức và chia sẻ tri thức nêu trên, khái niệm “Tri thức” theo đúng ý đồ của nghiên cứu sẽ được xem xét; những tri thức thuộc về sở hữu cá nhân, bao gồm ý tưởng, sự kiện, kiến thức chuyên môn hoặc là sự đánh giá sẽ có liên quan đến hiệu suất của cá nhân, của đội nhóm và của tổ chức (Alavi và Leidner, 2001; Bartol và Srivastava, 2002).
Tri thức là một nguồn tài nguyên quan trọng của tổ chức. Nó tạo ra các lợi thế cạnh tranh cho sự phát triển bền vững của các công ty, trong một nền kinh tế thị trường năng động và nhiều đối thủ cạnh tranh (Davenpork và Prusak, 1998; Foss và Pederson, 2002; Grant, 1996). Các công ty không chỉ đơn thuần là thuê được nhân viên phù hợp hoặc tiến hành các khóa đào tạo nhân viên là có thể duy trì được các lợi 12 thế cạnh tranh của mình (Brown và Duguid, 1991). Điều thiết yếu là họ cần phải hiểu cách luân chuyển tri thức cũng như những hiểu biết chuyên môn giữa các nhân viên trong nội bộ công ty của mình (Davenpork và Prusak, 1998).
Nahapiet và Ghoshal (1998) chỉ ra rằng tri thức trong công ty được tạo ra từ việc trao đổi tri thức hiện có giữa các nhân viên. Chia sẻ tri thức Chia sẻ là quá trình trong đó có một nguồn tài nguyên do một bên đưa ra và một bên đón nhận, để sự chia sẻ diễn ra phải có một sự trao đổi, theo đó, nguồn tài nguyên được chuyển giao từ bên cho sang bên nhận (Mark Sharratt và Abel Usoro, 2003). Là một thành phần trong hoạt động quản lý tri thức, chia sẻ tri thức liên quan đến sự sẵn sàng của các cá nhân trong một tổ chức để chia sẻ với người khác những tri thức đã thu được hoặc tạo ra (Bock, G. và cộng sự, 2005).
Chia sẻ tri thức được định nghĩa là việc thông tin được cung cấp để mọi người cùng làm việc và giải quyết những vấn đề nhất định, phát triển ý tưởng mới, đề xuất sáng kiến hoặc thực hiện các chính sách, quy trình (Cummings, 2004). Theo Catherin Elizabeth (2000), chia sẻ tri thức là một tập hợp các hành vi liên quan đến việc trao đổi thông tin hoặc hỗ trợ cho những người khác. Nó khác biệt với việc chia sẻ thông tin, là việc các nhà quản lý cung cấp các thông tin về tổ chức cho nhân viên. Trong khi chia sẻ tri thức có tính chất của sự trao đổi qua lại thì chia sẻ thông tin có thể là đơn hướng và không được yêu cầu.
Khả năng tận dụng tri thức một cách hiệu quả trong tổ chức phụ thuộc rất lớn vào nhân viên, những người thật sự sáng tạo, chia sẻ và sử dụng tri thức. Tận dụng tri thức chỉ khả thi khi mọi người biết chia sẻ tri thức mình có được hoặc xây dựng được dựa trên tri thức của người khác. Chia sẻ tri thức về cơ bản là hành vi làm cho tri thức trở nên có giá trị và sử dụng được đối với mọi thành viên trong tổ chức. Chia sẻ tri thức giữa các cá nhân là quá trình mà tri thức của một cá nhân được chuyển đổi thành một dạng mà các cá nhân 13 khác có thể hiểu được, tiếp thu và sử dụng.
Thuật ngữ “chia sẻ” được sử dụng để ngụ ý rằng quá trình thể hiện tri thức của cá nhân thành dạng mà những người khác có thể sử dụng được có liên quan đến một số hành động có ý thức của các cá nhân sở hữu tri thức. “Chia sẻ” cũng có nghĩa rằng người chia sẻ không từ bỏ quyền sở hữu tri thức, thay vào đó, nó sẽ kết nối việc sở hữu chung tri thức thức giữa người chia sẻ và người nhận (IPE, 2003). Chia sẻ tri thức rất quan trọng vì nó tạo ra sự liên kết giữa các cá nhân và tổ chức bằng cách dịch chuyển tri thức từ cấp độ cá nhân sang cấp độ tổ chức. Nhờ đó mà tri thức được chuyển đổi thành giá trị kinh tế và lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức (H endriks, 1999).
Cohen và Levinthal (1990) cho rằng sự tương tác giữa những cá nhân có kiến thức đa dạng và phong phú sẽ tăng cường mạnh mẽ khả năng đổi mới của tổ chức, vượt xa khả năng của bất kỳ cá nhân nào có thể làm được. Boland và Tenkasi (1995) đồng tình với ý kiến này và cho rằng lợi thế cạnh tranh và sự thành công của sản phẩm trong các tổ chức bắt nguồn từ sự phối hợp hiệp lực của các cá nhân có tri thức đối với kết quả chung.