Tổng quan nghiên cứu

Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những trụ cột an sinh xã hội chiến lược của Việt Nam. Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng nguồn lực đầu tư gần 26.000 tỷ đồng, mục tiêu trọng tâm là đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm và bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức cấp xã nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.

Tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim bao gồm 5 xã và 1 thị trấn (Thị trấn Tràm Chim, Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thọ, Tân Công Sính, Phú Thành B) có quy mô dân số 47.973 người, chiếm xấp xỉ 45% tổng dân số toàn huyện. Mặc dù địa phương đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 17% năm 2010 lên 25% năm 2015, chất lượng giải quyết việc làm và tính bền vững của sinh kế sau đào tạo vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Người dân phần lớn làm việc theo tính chất mùa vụ, chưa khai thác triệt để tiềm năng du lịch sinh thái của khu Ramsar Tràm Chim và còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chính quyền trong khâu tiêu thụ sản phẩm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính công của tác giả Quách Thị Diệu, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Sử Đình Thành tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, tập trung làm rõ thực trạng thực thi chính sách đào tạo nghề, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo và sinh kế của người dân các xã vùng đệm trong giai đoạn 2016–2017 dựa trên số liệu quản lý giai đoạn 2011–2016. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp giải pháp tài chính công và quản lý địa phương nhằm nâng mức thu nhập bình quân của người lao động từ 2 đến 3 triệu đồng/tháng lên mức ổn định hơn, đồng thời giảm thiểu áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép vào vùng lõi bảo tồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Vốn nhân lực (Human Capital Theory) và Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - DFID), kết hợp các tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn ILO 500 của Tổ chức Lao động Quốc tế và Thông tư số 19/2010/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa 5 nhóm nhân tố cốt lõi tác động đến kết quả đào tạo nghề bao gồm: chương trình giáo trình giảng dạy; năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; điều kiện cơ sở vật chất cùng nguồn lực tài chính công; nhận thức của người học và cộng đồng xã hội; môi trường kinh tế - chính sách tại địa phương.

Hệ thống khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong công trình gồm:

  • Nghề và đào tạo lao động kỹ thuật: Quá trình trang bị có hệ thống về kỹ năng thực hành, tri thức chuyên môn và thái độ lao động để người học tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm với năng suất cao.
  • Lao động nông thôn: Lực lượng lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các ngành kinh tế nông thôn, có đặc thù phân tán, thu nhập thấp và chịu tính mùa vụ sâu sắc.
  • Chất lượng đào tạo nghề: Mức độ đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực hành nghề thực tế của người học so với chuẩn đầu ra và nhu cầu của thị trường lao động.
  • Sinh kế bền vững: Năng lực duy trì và nâng cao nguồn thu nhập ổn định, đối phó và phục hồi sau các biến cố kinh tế - môi trường mà không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập khoa học:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011–2016 của Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông, Niên giám thống kê huyện năm 2014, các số liệu chuyên đề của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tam Nông và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa thông qua phiếu điều tra bảng hỏi in sẵn kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân và quan sát thực tế. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 90 học viên đã hoàn thành các khóa đào tạo nghề ngắn hạn dưới 3 tháng.
  • Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng tại 6 đơn vị hành chính vùng đệm, chọn đều 15 học viên tại mỗi xã/thị trấn (Thị trấn Tràm Chim, Phú Đức, Phú Hiệp, Tân Công Sính, Phú Thành B, Phú Thọ). Cỡ mẫu này bảo đảm tính đại diện cho các cụm dân cư sống ven rừng tràm và vùng ngập nước đặc thù.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thực hiện phương pháp thống kê mô tả (tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm) và phương pháp so sánh dữ liệu chuỗi thời gian 2011–2016. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ mục tiêu lượng hóa chính xác cơ cấu nhân khẩu học, mức độ hài lòng của học viên đối với từng tiêu chí đào tạo và đối chiếu sự biến chuyển tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa các giai đoạn chính sách.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu sơ cấp được tiến hành tập trung trong giai đoạn 2016–2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu quản lý và dữ liệu khảo sát thực tế tại huyện Tam Nông đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô mở lớp và cơ cấu ngành nghề có sự chênh lệch lớn giữa lĩnh vực phi nông nghiệp và nông nghiệp. Giai đoạn 2011–2016, toàn bộ các xã vùng đệm đã mở được 160 lớp dạy nghề với 4.156 học viên tham gia. Trong đó, nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế áp đảo với 134 lớp và 3.376 học viên (chiếm 81,23% tổng số học viên), trong khi nghề nông nghiệp chỉ mở được 26 lớp với 780 học viên (chiếm 18,77%). Thị trấn Tràm Chim là địa bàn có số lượng người học cao nhất với 98 lớp và 2.552 học viên, tiếp theo là xã Phú Đức với 21 lớp và 545 học viên. Tổng ngân sách hỗ trợ học nghề trên toàn huyện theo Đề án 1956 đã giải ngân cho nghề nông nghiệp 520,905 triệu đồng (1.276 người) và nghề phi nông nghiệp đạt trên 9 tỷ đồng (7.014 người).

Thứ hai, cơ cấu giới tính và học vấn của người học nghề mang tính đặc thù cao. Trong mẫu khảo sát 90 học viên, nữ giới chiếm tỷ lệ vượt trội với 72,22% (65 người), trong khi nam giới chỉ chiếm 27,78% (25 người). Về trình độ văn hóa, người có trình độ trung học cơ sở (lớp 6 đến lớp 9) chiếm tỷ trọng lớn nhất với 56,67% (51 người), trình độ trung học phổ thông (lớp 10 đến lớp 12) chiếm 32,22% (29 người), và trình độ tiểu học (lớp 1 đến lớp 5) chiếm 11,11% (10 người).

Thứ ba, kênh tiếp cận thông tin chính sách phát huy hiệu quả từ cơ sở nhưng cơ sở vật chất đào tạo còn nhiều hạn chế. Có 50,0% học viên biết đến chính sách đào tạo nghề thông qua sự tuyên truyền trực tiếp của cán bộ xã, 26,67% qua đài truyền thanh huyện/xã và 23,33% qua chia sẻ của những người đã học trước đó. Đánh giá về chất lượng khóa học, 87,78% học viên (79 người) nhận định giáo trình và nội dung giảng dạy đáp ứng được yêu cầu thực tế. Tuy nhiên, có tới 53,33% học viên (48 người) đánh giá cơ sở vật chất, máy móc và trang thiết bị thực hành chưa đảm bảo; 14,44% cho rằng cán bộ quản lý còn trẻ thiếu kinh nghiệm và 15,56% đề xuất cần thay đổi phương pháp sư phạm, đưa hình ảnh và công nghệ trình chiếu vào bài giảng.

Thứ tư, hiệu quả tạo việc làm bước đầu hình thành các mô hình sinh kế nhưng thu nhập chưa cao. Toàn huyện duy trì được 31 tổ nghề với 528 hội viên. Các nghề phi nông nghiệp hiệu quả gồm đan ghế nhựa, đan giỏ xách nhựa, kết hạt cườm, may công nghiệp, làm sản phẩm thủ công từ cây lục bình; nghề nông nghiệp nổi bật có ươm cây giống bạch đàn, nuôi bò, chế biến khô cá lóc. Mức thu nhập bình quân của lao động sau đào tạo đạt từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng/người/tháng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng đào tạo nghề chưa tạo ra bước đột phá về thu nhập bắt nguồn từ sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ đầu ra. Nhiều tổ nghề đan lát, may mặc bị gián đoạn hoạt động khi nguồn nguyên liệu không liên tục. Bên cạnh đó, các khóa đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng chỉ đủ cung cấp kỹ năng giản đơn, trong khi các nghề kỹ thuật cao như sửa chữa xe máy, máy vi tính hay điện thoại di động đòi hỏi thời gian thực hành chuyên sâu nên học viên khó thành thạo tay nghề để tự mở tiệm kinh doanh độc lập.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm của Tăng Minh Lộc về cơ cấu dạy nghề nông thôn và nghiên cứu của Nguyễn Văn Đại về đào tạo nghề vùng đồng bằng, kết quả tại Tam Nông phản ánh đúng quy luật chung: việc dạy nghề nếu chỉ chạy theo chỉ tiêu số lượng mà chưa gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và quy hoạch du lịch sinh thái sẽ dẫn đến tình trạng lao động bỏ nghề hoặc chỉ làm việc bán thời gian.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được trình bày trực quan rất hiệu quả qua các biểu đồ: Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu giới tính người học (72,22% nữ so với 27,78% nam); biểu đồ cột ghép so sánh tương quan số lớp đào tạo giữa ngành nghề phi nông nghiệp (134 lớp) và nông nghiệp (26 lớp) qua các năm 2011–2016; và bảng ma trận đánh giá chất lượng phản ánh mức độ đáp ứng của trang thiết bị đào tạo (46,67% đạt chuẩn và 53,33% chưa đạt chuẩn). Sự trực quan hóa này giúp các nhà quản trị nhận diện rõ ràng các điểm nghẽn hạ tầng kỹ thuật cần ưu tiên nguồn vốn can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề và tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng đệm:

Thứ nhất, nâng cấp cơ sở vật chất và hiện đại hóa thiết bị giảng dạy thực hành. Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông cần chỉ đạo phân bổ ngân sách sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp hàng năm, nâng tỷ lệ phòng thực hành đạt chuẩn từ mức 46,67% hiện nay lên trên 85% vào năm 2023. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện cần chủ động mua sắm các trang thiết bị hiện đại, máy may công nghiệp thế hệ mới và mô hình nông nghiệp công nghệ cao để học viên được tiếp cận quy trình sản xuất tiên tiến.

Thứ hai, đổi mới phương thức đào tạo gắn kết với chuỗi giá trị du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Tràm Chim. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tam Nông cần chủ trì phối hợp với Ban Quản lý Vườn Quốc gia và các doanh nghiệp lữ hành ký kết hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng. Mục tiêu trong giai đoạn 2021–2025 là bảo đảm trên 80% học viên các lớp thủ công mỹ nghệ lục bình, chế biến đặc sản khô cá lóc và hướng dẫn viên du lịch cộng đồng có việc làm ngay sau tốt nghiệp, nâng mức thu nhập bình quân từ 2–3 triệu đồng lên 4,5–6 triệu đồng/tháng.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng quản lý lớp học. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Tháp cùng Ủy ban nhân dân huyện cần tổ chức các khóa bồi dưỡng phương pháp sư phạm hiện đại, phấn đấu 100% giáo viên ứng dụng bài giảng số hóa, video trực quan trong giảng dạy trước năm 2022. Đồng thời, bố trí cán bộ quản lý lớp học có kinh nghiệm thực tế để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của học viên.

Thứ tư, phát triển mạng lưới liên kết tiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ nguồn vốn khởi nghiệp. Các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã Phú Đức, Phú Thọ, Tân Công Sính, Phú Hiệp, Phú Thành B và Thị trấn Tràm Chim cần củng cố 31 tổ nghề hiện có, kết nối với Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện để giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi cho 100% tổ hợp tác có dự án sản xuất khả thi trong giai đoạn 2022–2024, tạo chuỗi liên kết tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ ổn định ra thị trường toàn quốc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý công tại địa phương. Cán bộ thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Tháp, Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông và Ban Chỉ đạo Đề án 1956 cấp huyện/xã có thể sử dụng các phát hiện thực chứng để tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách tài chính công, nâng cao hiệu quả công tác khảo sát nhu cầu đào tạo và giám sát chất lượng giải quyết việc làm sau đào tạo.

Nhóm 2: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính công, Quản lý công và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp khung phân tích chuẩn mực về đánh giá chính sách công, phương pháp khảo sát thực địa tại vùng nông thôn ngập nước và hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian phong phú phục vụ các nghiên cứu so sánh sinh kế.

Nhóm 3: Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia và các tổ chức phi chính phủ về môi trường. Công trình mang lại case study điển hình về giải pháp phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm nhằm giảm thiểu áp lực xâm nhập và khai thác tài nguyên sinh thái trái phép, phục vụ mục tiêu quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững.

Nhóm 4: Lãnh đạo các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, Hợp tác xã và Doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp. Các đơn vị đào tạo và cơ sở sản xuất có thể tham khảo mô hình liên kết đào tạo theo địa chỉ, thiết kế chương trình học gắn với nguồn nguyên liệu bản địa như cây lục bình và thủy sản nước ngọt để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu trọng tâm của chính sách đào tạo nghề tại các xã vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim là gì? Mục tiêu cốt lõi là trang bị kỹ năng nghề phi nông nghiệp và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cho lao động nông thôn, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 17% lên trên 25%, giúp tạo việc làm tại chỗ với mức thu nhập từ 2 đến 3 triệu đồng/tháng. Qua đó, chính sách giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương và giảm thiểu áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép tại Vườn Quốc gia.

  2. Vì sao tỷ lệ lao động nữ tham gia học nghề tại các xã vùng đệm lại chiếm tới 72,22%? Tỷ lệ nữ giới chiếm ưu thế do đặc thù các ngành nghề mở lớp chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ như đan giỏ nhựa, may công nghiệp, làm sản phẩm thủ công từ cây lục bình và kết cườm. Đây là những công việc phù hợp với thời gian nhàn rỗi mùa vụ, tính chất khéo léo của lao động nữ và có thể nhận nguyên liệu về gia công trực tiếp tại hộ gia đình.

  3. Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác đào tạo nghề tại huyện Tam Nông giai đoạn 2011–2016 là gì? Có hai điểm nghẽn lớn nhất: khoảng 53,33% học viên đánh giá cơ sở vật chất, thiết bị thực hành của cơ sở dạy nghề chưa đảm bảo; và tính thiếu bền vững của thị trường tiêu thụ đầu ra. Nhiều tổ nghề gặp khó khăn khi nguồn cung nguyên liệu không đều đặn, dẫn đến thu nhập của lao động bị gián đoạn.

  4. Những mô hình nghề nào đang phát huy hiệu quả kinh tế tốt nhất tại địa phương? Các mô hình duy trì hiệu quả cao gồm 31 tổ nghề với 528 hội viên, tập trung vào nghề phi nông nghiệp như sản phẩm thủ công từ lục bình, may công nghiệp, đan ghế nhựa; và nghề nông nghiệp như ươm cây giống bạch đàn, chế biến khô cá lóc, chăn nuôi bò. Các mô hình này đem lại thu nhập bình quân ổn định từ 2 đến 3 triệu đồng/tháng cho mỗi lao động.

  5. Luận văn đóng góp gì mới cho công tác quản lý tài chính công trong đào tạo nghề? Luận văn đã lượng hóa hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí ngân sách giải ngân qua Đề án 1956 (chi trả hơn 9,5 tỷ đồng hỗ trợ học viên nông nghiệp và phi nông nghiệp), chỉ ra sự cần thiết phải chuyển dịch cơ chế cấp phát tài chính từ dàn trải theo chỉ tiêu số lượng sang cơ chế đặt hàng đào tạo gắn chặt với hiệu quả tạo việc làm và chuỗi giá trị du lịch sinh thái.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng kết toàn diện kết quả thực thi Đề án 1956 tại 6 xã và thị trấn vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim với 160 lớp đào tạo cho 4.156 học viên, nâng tỷ lệ lao động có tay nghề của huyện lên 25%.
  • Nghiên cứu chỉ ra cơ cấu người học có 72,22% là lao động nữ và 56,67% có trình độ trung học cơ sở; thu nhập sau đào tạo đạt mức bình quân 2.000.000 đến 3.000.000 đồng/tháng thông qua 31 tổ nghề.
  • Xác định điểm nghẽn trọng yếu tại cơ sở vật chất đào tạo (53,33% chưa đảm bảo) và tính thiếu liên kết giữa cơ sở dạy nghề với chuỗi giá trị du lịch sinh thái và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính công và quản trị địa phương giai đoạn 2020–2025, tập trung nâng tỷ lệ phòng học đạt chuẩn lên trên 85% và bảo đảm trên 80% học viên có việc làm ổn định.
  • Công trình là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội, quản lý tài chính công và phát triển sinh kế bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và cộng đồng học thuật quan tâm đến vấn đề phát triển sinh kế nông thôn gắn liền bảo tồn sinh thái nên khai thác sâu các phát hiện và khung giải pháp từ luận văn thạc sĩ này nhằm triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo.