Chương 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài Với bề dày 58 năm hình thành và phát triển, Tổng Công ty Cổ phần Phong Phú (PPC) đã xây dựng được hình ảnh tốt, thương hiệu tốt trên thị trường cả trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, PPC cũng luôn quan tâm đến sự ổn định và phát triển đội ngũ nhân viên bằng các chính sách về: khen thưởng, định hướng học hỏi, tạo dựng văn hóa tổ chức, tin tưởng vào nhân viên và đầu tư hệ thống thông tin để khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức (CSTT). Tri thức được xem là tài sản rất quan trọng của bất kỳ đơn vị hay tổ chức nào. PPC là Công ty đứng đầu trong ngành dệt của Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
Do đó, việc CSTT để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là rất quan trọng. Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì PPC cần có một đội ngũ nhân viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và nâng cao tính cạnh tranh trong thời đại hiện nay. Chính vì vậy, việc tạo môi trường làm việc tốt, tạo điều kiện cho nhân viên CSTT để tạo động lực cho nhân viên làm việc hiệu quả hơn, và góp phần tạo nên sự gắn bó lâu dài của nhân viên với PPC là rất cần thiết để thu hút, giữ chân nhân viên chất lượng cao. Trong quá trình phát triển, PPC cũng phải đối diện với bài toán khó là “chảy máu chất xám”, hàng năm số lượng nhân viên xin nghỉ việc từ 30 đến 40 nhân viên, chuyên với nhiều lý do khác nhau, trong đó có người đã công tác tại PPC lâu năm.
Đây là câu hỏi lớn cho các Công ty Dệt Nam tại Việt Nam hiện nay. Hiện nay, tại PPC, hành vi CSTT của nhân viên vẫn còn rất hạn chế. Mặc dù ban lãnh đạo đã đề ra những phương án học tập cũng như huấn luyện, CSTT giữa cấp trên và cấp dưới, giữa những nhân viên cùng cấp nhưng số lượng nhân viên khối văn phòng tham gia những hoạt động chưa cao và có chiều hướng giảm đi. Điều này sẽ 28 dẫn đến chất lượng cũng như số lượng hoạt động CSTT trong PPC ngày càng thấp và giảm đi khả năng cạnh tranh cũng như mất đi tinh thần đoàn kết giữa những nhân viên với nhau.
Mặt khác, tại TP HCM, trong lĩnh vực CSTT, chưa có một nghiên cứu nào về hành vi CSTT tại PPC. Như vậy, cần có nghiên cứu về hành vi CSTT tại PPC. Chính vì những lý do nêu trên nên tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại Tổng Công Ty Cổ Phần Phong Phú” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế.2 Mục tiêu nghiên cứu Như đã giới thiệu ở trên, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ban lãnh đạo của PPC trong giai đoạn hiện nay. Để góp phần vào công việc trên, nghiên cứu này nhằm vào mục tiêu tổng quát là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẽ tri thức của nhân viên khối văn phòng.
Cụ thể hơn, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu chính sau đây: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC. Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC. Đề xuất những kiến nghị cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT để đẩy mạnh việc CSTT của nhân viên khối văn phòng, để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh tại PPC.3 Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu, cần phải làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC là những nhân tố nào? Trong các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC, nhân tố nào tác động mạnh nhất, yếu nhất? 29 1.4 Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC.5 Phạm vi nghiên cứu Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu nhân viên khối văn phòng tại PPC. Thời gian: Số liệu dùng để phân tích từ năm 2018 đến năm 2020, trong đó số liệu thứ cấp được lấy từ Phòng Tổng Hợp.
Và số liệu sơ cấp điều tra trong năm 2021 thông qua bảng khảo sát.6 Phương pháp nghiên cứu Khảo sát và thống kê. Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Đối tượng khảo sát là cán bộ công nhân viên khối văn phòng tại PPC. Khảo lược các công trình nghiên cứu có liên quan để kế thừa một số nội dung học thuật nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu.7 Đóng góp của nghiên cứu Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn vì đã giúp cho Ban Giám Đốc của PPC nhận biết các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT của nhân viên khối văn phòng.
Đề tài cũng đề xuất các kiến nghị cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi CSTT để Ban lãnh đạo PPC tham khảo, thúc đẩy việc CSTT của nhân viên khối văn phòng tại PPC.8 Kết cấu của luận văn 30 Tóm tắt chương 1 Chương 1 trình bày các nội dung tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu. 31 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tri thức (Knowledge) Hầu hết các ngành đều có định nghĩa riêng về tri thức. Không có một định nghĩa nào có thể bao quát hết tất cả các ngành, trình độ chuyên môn và các tổ chức (Beckman, 1999). Theo tác giả Nonaka & Takeuchi (1995) cho rằng, “Tri thức là quá trình học tập, lao động, sống và làm việc của con người để minh chứng các niềm tin của mình về một số vấn đề mà mình cho là đúng”.
“Tri thức là tổng hợp các kinh nghiệm, hiểu biết, thông tin và giá trị con người để khi hợp tác lại với nhau thì cho ra các giá trị, kinh nghiệm mới, thông tin mới” (Davenport & Prusak, 1998). Alavi và cộng sự, (2005) cho rằng, tri thức là thông tin được cá nhân hóa tùy theo cách giải thích, đánh giá và lập luận của con người đó. Theo tác giả Bollinger & Smith, (2001) cho rằng, “tri thức là hiểu biết, là nhận thức có được từ nhiều sự pha trộn tích lũy các kinh nghiệm, kỹ năng, tầm nhìn, sự quan sát, các nguyên tắc quy tắc tự nhiên”.1 Tri thức hiện (Explixit knowledge) Tri thức hiện được định nghĩa là tri thức được mã hóa để dễ dàng truyền đạt, là loại tri thức có cấu trúc, và dễ dàng lưu trữ. Tri thức này dễ dàng thể hiện nên nó có trong các chương trình máy tính, thông số chi tiết của sản phẩm, là các công thức vì nó có hình thức (Nonaka, 1994;1996).2 Tri thức ẩn (Tacit knowledge) Nonaka (2007) cho rằng, tri thức ẩn là loại khó có thể hình thức hóa vì đó là tri thức cá nhân nên rất khó để truyền đạt cho người khác.
Tri thức ẩn không dễ dàng để nói rỏ được chúng vì nó có trong hành động, trong một phần năng lực của cá nhân, trong các kỹ thuật không chính thức, nó cũng được coi như là “bí quyết” và rất khó lưu giữ.2 Chia sẻ tri thức 2.1 Khái niệm “CSTT là sự trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng, thông tin, chuyên môn giữa các cá nhân hay một nhóm người trong tổ chức để tạo ra sự thay đổi tốt hơn, tạo ra nguồn lực quý giá và cải tiến hiện trạng trong tổ chức” (Davenport & Prusak, 1998). Theo tác giả Hendriks, (1999) cho rằng, CSTT có vai trò to lớn vì nó tạo ra mối liên kết của các cá nhân và tổ chức, tri thức của các cá nhân sẽ trở thành tri thức của tổ chức, từ đó tạo nên lợi thế cạnh tranh của tổ chức”. Theo tác giả Lee & Al-Hawamdeh (2002) cho rằng: CSTT giữa các nhân viên với nhau sẽ tạo ra những ý tưởng sáng tạo, đổi mới, nhờ đó họ có thể giải quyết được những vấn đề một cách hiệu quả hơn. CSTT hiệu quả sẽ giúp giảm chi phí sản xuất, tăng cường khả năng đổi mới và chất lượng dịch vụ, vì vậy sẽ làm tăng hiệu quả của tổ chức (S.
Tại khu vực công, CSTT cùng với việc sử dụng các hệ thống thông tin giúp tiết kiệm thời gian và làm tăng niềm tin cho cán bộ công nhân viên khi triển khai công việc. Vì vậy, các nhân viên sẽ ít bị lỗi và nâng cao hiệu quả công việc (Kang, Kim, & Chang, 2008). CSTT tích cực tạo điều kiện cho sự kết hợp và chuyển từ tri thức hiện có sang tri thức mới và tạo ra nhiều hơn các ý tưởng sáng tạo để nâng cao năng suất lao động (Yun & Lee, 2017). “CSTT là văn hoá hợp tác với nhau có mối quan hệ đến việc trao đổi tri thức của cá nhân và các bộ phận phòng ban trong tổ chức” (Lin, 2007).
33 Các nhân viên trong tổ chức thường xuyên CSTT cùng nhau thì luôn có những tin tức cập nhật mới, ý tưởng sáng tạo mới và luôn có những đề xuất để xây dựng tổ chức, nâng cao hiệu quả sản xuất và chuyên môn nghiệp vụ (Tan và cộng sự, 2010). Theo tác giả Serenko & Bontis (2013), “CSTT là các hoạt động để truyền tải tri thức của cá nhân này sang cho các cá nhân khác trong một tổ chức”. Từ việc trao đổi CSTT lẫn nhau giữa những cá nhân (tiềm ẩn và rõ ràng) để tạo ra tri thức mới cho tổ chức (Sandhu và cộng sự, 2011).2 Phân loại chia sẻ tri thức Van Den Hooff & Ridder (2004) cho rằng, cống hiến tri thức (knowledge donating) là cách trao đổi với người khác, với đồng nghiệp bằng tri thức của cá nhân, và ngược lại là trao đổi với người khác và đồng nghiệp để họ CSTT cho mình gọi là thu thập tri thức (knowledge collecting). CSTT thành công là tạo nên một vòng tròn tri thức trong tổ chức, khi các cá nhân mong muốn CSTT của mình cho người khác và muốn được nhận lại tri thức từ người khác.
Tác giả Chaudhry (2005) cho rằng, tổ chức nên tạo ra môi trường để CSTT thường xuyên, theo chuyên đề nhằm thực hiện các kế hoạch, chỉ tiêu để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức.