Chương 1, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Thông qua các nội dung này để xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp, ý nghĩa thực tiễn và hàm ý quản trị thúc đẩy hoạt động chia sẻ tri thức của người lao động tại Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan Tri thức: Theo Bender và Fish (2000), tri thức xuất phát từ trí óc của con người trên cơ sở thông tin tiếp nhận được chuyển đổi và làm giàu nhờ kinh nghiệm, lòng tin, giá trị, và ý nghĩa của hành động liên quan. Tri thức là thông tin được con người diễn giải và áp dụng vào mục đích cần thiết, tri thức không giống nhau giữa người này và người khác dù tiếp nhận cùng một thông tin.
Tri thức là trạng thái tinh thần của ý tưởng, thực tế, khái niệm, dữ liệu và kỹ thuật được ghi nhận trong bộ óc của con người. Cần tập trung phân biệt dữ liệu, thông tin và tri thức, tuy nhiên sự khác biệt giữa chúng không phải lúc nào cũng rõ ràng. Cá nhân hóa Chuyên gia Làm giàu bằng trải nghiệm, giáo dục, đào tạo Tri thức Chuyển giao Chuyển hóa bằng áp dụng, niềm tin Thông tin Thêm hiểu biết, ý nghĩa Dữ liệu Hình 2.1 Tháp tri thức của Bender và Fish (2000) Nguồn: Bender và Fish (2000) Tháp tri thức của Bender và Fish thể hiện quá trình hình thành tri thức. Trong đó dữ liệu rời rạc và khách quan về một hiện tượng, hay sự kiện và được xem là nguồn nguyên liệu thô để tạo ra thông tin.
Dữ liệu được thu thập, phân loại và hệ thống hóa sau đó được gia tăng giá trị bằng việc bổ sung ý nghĩa, hiểu biết của con người để trở thành thông tin. Lúc này thông tin đã có hình hài, con người xác nhận nhu cầu thông tin, chọn lọc từ dữ liệu để khai thác phục vụ cho công việc, hoạt động. Từ những 7 thông tin đầu vào, cá nhân hình thành các quyết định, quy trình, phương pháp để áp dụng. Sau khi sử dụng, thông tin được chuyển hóa thành tri thức trên cơ sở niềm tin, giá trị và sự trải nghiệm.
Để đạt đến cấp chuyên gia, tri thức phải được làm giàu, trải nghiệm trong thời gian dài, nghiên cứu và đào tạo. Mỗi cá nhân hình thành trí thức bằng việc chuyển hóa và làm giàu thông tin. Việc chuyển giao hay chia sẻ tri thức cho người khác thật không dễ, người lao động có tri thức có thể dạy hay đào tạo cho người khác trong một lĩnh vực nào đó bằng cách chuyển tải tri thức của họ vào bài giảng, bài trình bày, hay OJT. Có nhiều khái niệm về tri thức nhưng dường như không có một khái niệm nào có tính đại diện cao để được sử dụng rộng rãi bởi khái niệm còn phù thuộc vào nội dung được trình bày.
Hệ thống quản lý và chia sẻ tri thức: là hệ thống dựa trên nền tảng công nghệ thông tin được áp dụng để quản lý tri thức của doanh nghiệp (Alavi và Leidner, 2001). Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một số nghiên cứu để hiểu Hệ thống quản lý thông tin thúc đẩy việc tạo ra tri thức, lưu trữ, chia sẻ và sử dụng tri thức như thế nào trong việc năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức. Quản lý và chia sẻ tri thức đã được ghi nhận có đóng góp quan trọng vào hiệu quả và thành công của tổ chức, trong đó chia sẻ tri thức là một phần thiết yếu trong quá trình quản lý tri thức. Chia sẻ tri thức: là quá trình chuyển giao tri thức đến các thành viên trong tổ chức theo một cách thức phù hợp cho việc ra quyết định (Okah, 2011).
Chia sẻ tri thức đòi hỏi văn hóa tương tác xã hội để trao đổi tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng giữa các phòng ban trong tổ chức và giữa tổ chức với tổ chức. Môi trường chia sẻ thúc đẩy người lao động hợp tác và tham gia làm giàu và giữ gìn tri thức và kinh nghiệm (Martinez-Conesa và cộng sự, 2017). Chia sẻ tri thức là để phân phối đúng nội dung đến đúng người đúng thời điểm và là một nhân tố đóng góp quan trọng vào sự ổn định và lợi thế cạnh tranh (Donnelly, 2019). 8 Tri thức hiện: dễ dàng được ghi nhận và thường được thể hiện dưới dạng văn bản, tài liệu, báo cáo, mô hình, công thức.
và thuận tiện để lưu giữ, chuyển giao, chia sẻ thông qua quá trình đào tạo, hướng dẫn, tập huấn (Holste và Fields, 2010). Tri thức ẩn: mang tính cá nhân cao và rất khó để ghi nhận để thể hiện dưới các dạng tường minh như tri thức hiện, nó được hình thành từ trải nghiệm thực tế, hoặc thông qua học hỏi, nghiên cứu chuyên sâu như: khả năng, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm, hay các quá trình không được tư liệu hóa. Tri thức ẩn có thể được chuyển giao thông qua tương tác trực diện, thực hành, quan sát, bắt chước, chia sẻ kinh nghiệm. dựa vào niềm tin (Holste và Fields, 2010).
Quản lý tri thức: là quá trình nhận diện, tổ chức, lữu giữ và lan tỏa thông tin trong tổ chức. Khi tri thức của tổ chức không dễ được tiếp cận có thể phải một chi phí cao bởi thời gian có giá trị được dùng vào việc tìm kiếm các thông tin liên quan (IBM Cloud Education, 2020). Phần lớn các tổ chức, cá nhân sử dụng quản lý tri thức để tăng cường sự phối hợp hợp tác, cải thiện năng suất, động viên khích lệ đổi mới sáng tạo, tạo thuận lợi cho người lao động chia sẻ tri thức, nắm bắt và ghi lại tri thức của người lao động trước khi nghỉ việc, đảm bảo các tri thức có giá trị không bị thất thoát. Quản lý tri thức còn tăng cường sự nhận thức về các khoảng trống tri thức, khả năng và cải thiện chất lượng hoạt động của tổ chức (Mirzaei, 2021).
Văn hóa doanh nghiệp: Mcdermott và O’Dell (2001) định nghĩa văn hóa tổ chức “Văn hóa là các giá trị chia sẻ, niềm tin và hành động thực tiễn của người lao động trong tổ chức. Văn hóa được phản ánh trong các mặt nhìn thấy được của tổ chức như sứ mệnh và các giá trị đồng thuận. Văn hóa còn tồn tại ở một mức độ sâu hơn nằm trong cách hành xử của người lao động, những mong muốn từ đồng nghiệp, cách cảm nhận về hành động của đồng nghiệp”.2 Các mô hình lý thuyết có liên quan 2.1 Lý thuyết tạo tri thức của Nonaka và Takeuchi (1995) Vào năm 1995, Nonaka và Takeuchi đã phát triển lý thuyết về tạo tri thức trong các tổ chức. Tác giả phân biệt giữa tri thức hiện và tri thức ẩn, tri thức hiện được chuyển giao bằng các khái niệm chuẩn được hệ thống hóa, còn tri thức ẩn là quan điểm của cá nhân và là các hướng dẫn cho hành động không tường minh, không dễ dàng được chuyển tải thông qua ngôn ngữ.
Việc tạo ra tri thức xảy ra theo hai quá trình tương tác. - Sự tương tác liên tục giữa tri thức hiện và tri thức ẩn được xem là sự chuyển đổi tri thức. Tri thức hiện và ẩn được hình thành và xoay chuyển củng cố cho nhau. Cá nhân cần tri thức ẩn để phát triển tri thức hiện và có khả năng liên kết tri thức hiện mới với các ý tưởng ẩn.
Sau đó tri thức hiện thúc đẩy việc thu thập tri thức ẩn thông qua đánh giá các ý tưởng phù hợp được chuyển giao. Theo Nonaka và cộng sự (1995) quá trình phát triển tri thức gồm tri thức ẩn và tri thức hiện nhưng sự tương tác giữa chúng mới là then chốt. - Tương tác xã hội giữa các chủ thể (cá nhân, nhóm, tổ chức.) mặc dù tri thức cá nhân hình thành nền tảng cho phát triển tri thức, nhưng tổ chức là một môi trường điều tiết quan trọng. Tổ chức khuyến khích phát triển tri thức cá nhân, truyền tải tri thức cá nhân vào tri thức của tổ chức bằng cách cho phép các cá nhân, các nhóm tương tác chia sẻ với nhau.
Tri thức của tổ chức sau đó được dùng để tạo ra sản phẩm mới, cải tiến quá trình. Chuyển đổi tri thức là một quá trình tương tác cộng đồng không chỉ xảy ra trong bản thân các cá nhân mà còn xảy ra giữa cá nhân và môi trường xung quanh. 10 Ngầm Ngầm Hiện Xã hội hóa Ngoại hóa Ngầm Qua giao tiếp xã hội, chia sẻ kinh Diễn giải thông qua các khái nghiệm… niệm, biểu đồ, câu chuyện… Nội nhập Kết hợp Hiện Chuyển tri thức chung thành tri Ghép nối tri thức hiện mới và thức riêng bằng học, làm, sử Ngầm đang có… dụng… Hiện Hiện Hình 2.2 Chu trình chuyển đổi tri thức Nguồn: Nonaka và Takeuchi (1995) 2.2 Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Icek Ajzen (1991) Lý thuyết hành vi hoạch định được tác giả phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975) để khắc phục các hạn chế của lý thuyết trước về hành vi không phải hoàn toàn do kiểm soát lý trí. Ajzen (1991) cho rằng ý định thực hiện hành vi bị chi phối bởi ba yếu tố: (i) thái độ hướng đến hành vi; (ii) chuẩn chủ quan; (iii) cảm nhận kiểm soát hành vi.
Tương tự như thuyết hành động hợp lý, một yếu tố trung tâm trong lý thuyết này là ý định thực hiện hành vi của cá nhân, ý định thực hiện hành vi bị chi phối bởi các động lực thúc đẩy như sự cố gắng, nỗ lực. Một nguyên lý chung, gắn kết giữa ý định và hành vi càng mạnh, khả năng thực hiện hành vi càng cao, tuy nhiên ý định thực hiện hành vi cũng bị chi phối bởi cơ hội và nguồn lực khác: thời gian, tiền bạc, kỹ năng, và sự hợp tác. 11 Thái độ Chuẩn chủ Ý định Hành vi quan Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2.3 Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) Nguồn: Icek Ajzen (1991) 2.3 Lý thuyết kết hợp TPB - TAM của Taylor và Todd Taylor và Todd (1995) xây dựng mô hình và thang đo ý định hành vi trên nền tảng phân tách các nhân tố dự báo trong mô hình lý thuyết hành vi hoạch định thành cấu trúc đa chiều. Mô hình này bao gồm 09 yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi được cảm nhận, Lợi ích, Tính phức tạp, Tính phù hợp, Ảnh hưởng của người thân và bạn bè, Năng lực bản thân và Điều kiện thuận lợi ảnh hưởng đến ý định.
Các thang đo này được phát triển dựa trên lý thuyết hành vi của Ajzen (1991), Moore và Benbasat (1992) và Rogers (1983).