CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC 1.1 Quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc 1.1 Lịch sử hình thành Các ngân hàng nước ngoài đã có lịch sử hiện diện tại Trung Quốc từ hàng trăm năm trước. Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, bốn ngân hàng nước ngoài vẫn tiếp tục duy trì văn phòng đại diện tại thành phố Thượng Hải là: HSBC, Ngân hàng Đông Á, Tập đoàn Ngân hàng Hoa Kiều và Ngân hàng Standard Chattered. Năm 1978, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu mở cửa chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, hệ thống ngân hàng của Trung Quốc cũng đã trải qua 3 giai đoạn trong quá trình mở cửa.
Cụ thể là: - Giai đoạn ( 1980-1993): Trong giai đoạn này, chiến lược mở cửa ngành Ngân hàng với mục đích là để thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài và cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng cách cung cấp các dịch vụ tài chính tốt hơn cho các tập đoàn kinh tế nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc. Do cầu nội địa đối với các dịch vụ tài chính tăng lên, Chính phủ Trung Quốc đã từng bước nới lỏng các hạn chế mang tính địa lý đối với các ngân hàng nước ngoài thông qua việc cho phép mở rộng sự hiện diện của các ngân hàng này từ các đặc khu kinh tế sang các thành phố lớn và thành phố ven biển. Đến cuối năm 1993, các ngân hàng nước ngoài đã thiết lập được 76 pháp nhân, hoạt động tại 13 thành phố với tổng tài sản lên tới 8,9 tỷ USD, phạm vi kinh doanh tập trung vào các dịch vụ ngoại hối cho các công ty nước ngoài và người nước ngoài tại Trung Quốc - Giai đoạn (1993- 2001): Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc đã có những tiến bộ quan trọng trong giai đoạn này, thể hiện qua tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái tế thị trường xã hội chủ nghĩa, với sự bùng nổ của thương mại và đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Tuy nhiên, để khuyến khích hơn nữa sự tham gia của các nhân tố nước ngoài tại Trung Quốc thông qua việc cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, Chính phủ Trung Quốc đã thông qua một loạt các chính sách và sửa đổi các luật, quy định có liên quan. Với tốc độ phát triển liên tục của đầu tư nước ngoài cũng như sự mở rộng không ngừng của các doanh nghiệp Trung Quốc ra thị trường thế giới, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài ngày càng mong muốn được trực tiếp kinh doanh tại Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, năm 1994 Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một văn bản pháp lý toàn diện điều chỉnh các hoạt động của các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài trên toàn lãnh thổ Trung Quốc với tên gọi là: Quy chế của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quản lý các định chế tài chính có vốn nước ngoài. Quy chế này được phát triển từ quy định được ban hành từ 1985 mang tên Quy chế của nước Công hòa Nhân dân Trung Hoa về quản lý các ngân hàng có vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại các đặc khu kinh tế.
Quy định mới đã cung cấp các hướng dẫn pháp lý đối với việc gia nhập thị trường và hoạt động thanh tra các ngân hàng có vốn nước ngoài. Trong khi đó, hoạt động của các ngân hàng nước ngoài đã được mở rộng từ các thành phố ven biển và các thành phố lớn ra toàn quốc và các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh tại tất cả các thành phố của Trung Quốc. Đến năm 1996, Chính phủ Trung Quốc công bố Quy chế về việc thí điểm kinh doanh đồng nhân dân tệ tại khu vực Thương Hải - Phố Đông của các định chế trài chính nước ngoài. Quy định này cho phép các ngân hàng nước ngoài tiếp cận hoạt động kinh doanh bằng đông nhân dân tệ phục vụ các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài.
Chính vì vậy đã thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng nước ngoài đạt con số 175, tăng 99 ngân hàng so với 4 năm trước đó, trong khi tài sản có của các ngân hàng này đã tăng gấp 4 lần. Cũng chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, các ngân hàng nước ngoài trở nên thận trọng hơn trong việc mở rộng hoạt động của mình tại khu vực châu Á, do đó hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc cũng bị giảm sút. Một số ngân hàng thậm chí còn đóng cửa. Từ 1998 đến 2001, chỉ có 15 tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS.
Bùi Quốc Thái được thành lập tại Trung Quốc. Chinh phủ Trung Quốc đã phải thực hiện hàng loạt các biện pháp để kích thích hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại thị trường này. Trong đó, việc lựa chọn Thâm Quyến là thành phố thứ hai sau Thượng Hải được thực hiện thí điểm cho phép các ngân hàng có vốn nước ngoài tham gia thị trường liên ngân hàng để họ có thể tiếp cận nguồn vốn bằng đồng nhân dân tệ; cho phép các ngân hàng có vốn nước ngoài có trụ sở tại Thượng Hải thực hiện kinh doanh đồng nhân dân tệ tại Quảng Đông, Quảng Tây và Hồ Nam. Mặc dù, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng này đã giảm xuống trong các năm đó, các ngân hàng nước ngoài lại có thể mở rộng kinh doanh đồng nhân dân tệ.
- Giai đoạn 2002- 2006: Với việc Trung Quốc chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/12/2001, ngành Ngân hàng của Trung Quốc đã chứng kiến những thay đổi sâu sắc trong giai đoạn này. Trong thời gian 5 năm ân hạn theo quy định trong thoả thuận gia nhập, Chính phủ Trung Quốc đã tôn trọng các cam kết và mở cửa thêm các lĩnh vực kinh doanh cho các ngân hàng có vốn nước ngoài tham gia. Những nỗ lực mở cửa và điều chỉnh hợp lý, nhanh chóng về mặt chính sách đã tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài mở rộng hoạt động. Sau 5 năm gia nhập WTO, mặc dù đã có một số vụ sáp nhập, số lượng tổ chức kinh doanh do các ngân hàng nước ngoài thành lập đã tăng từ 190 lên 312.
¾ Sau đây là một số biện pháp mở cửa đựoc sử dụng trong giai đoạn này: Tôn trọng các cam kết WTO: Những hạn chế về đối tượng khách hàng đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng có vốn nước ngoài đã được dỡ bỏ ngay sau khi gia nhập WTO. Ngoài ra, hoạt động kinh doanh bằng đồng nhân dân tệ của các ngân hàng nước ngoài cũng đã được mở rộng từ bốn thành phố lớn là Thượng Hải, Thâm Quyến, Thiên Tân và Đại Liên ra toàn quốc, đối tượng khách hàng cũng được mở rộng từ các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài sang các doanh nghiệp và người dân Trung Quốc. Cũng trong thời gian này, các hạn chế khác đối với các ngân hàng có vốn nước ngoài từng bước được nới lỏng, như hạn chế về tài sản nợ bằng đồng nhân dân tệ được dỡ bỏ; giới hạn về tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ từ nguồn trong nước đối 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái với các ngân hàng có vốn nước ngoài đã được bãi bỏ tuân theo nguyên tắc đối xử quốc gia được thoả thuận trong cam kết gia nhập WTO.2 Các sáng kiến độc lập với các cam kết gia nhập WTO: Trung Quốc cũng tiến hành hàng loạt các sáng kiến tự do hoá độc lập với những cam kết WTO nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách và thị trường của nền kinh tế.
Thứ nhất, nhằm mục đích khuyến khích các ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh tại các khu vực không gần biển như khu vực miền Trung, miền Tây và vùng đông Bắc nơi chưa có dịch vụ ngân hàng, một số thành phố trong đó có Tây An, Thẩm Dương, Cáp Nhĩ Tân, Trường Xuân, Lan Châu, Tây Ninh đã mở của cho các ngân hàng có vốn nước ngoài thực hiện kinh doanh bằng đồng nhân dân tệ trước thời hạn, đồng thời đẩy nhanh việc xem xét thông qua các thủ tục cho các ngân hàng có vốn nước ngoài mở chi nhánh tại các khu vực này. Thứ hai, yêu cầu về vốn hoạt động đối với các ngân hàng có vốn nước ngoài được hạ xuống một cách hợp lý nhằm nới lỏng các hạn chế về vốn khả dụng đối với các ngân hàng này. Thứ ba, tương tự như các ngân hàng trong nước các ngân hàng có vốn nước ngoài được phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh các công cụ phái sinh, các hoạt động quản lý tài sản, lưu ký và đại lý bảo hiểm ở nước ngoài. Thứ tư, theo thoả thuận đối tác thân thiện hơn (CEPA) với các đặc khu hành chính Hồng Kông và Ma Cao, các ngân hàng ở hai đặc khu này được đối xử ngang bằng khi xin phép mở chi nhánh hoặc các dự án kinh doanh mới ở Đại lục.
Thứ năm, để khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào khu vực ngân hàng trong Đại lục, Trung Quốc cho phép và khuyến khích các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đủ tiêu chuẩn mua cổ phần của các ngân hàng Trung Quốc trên cơ sở thương mại và tự nguyện. Như vậy, việc mở cửa hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã tập trung vào ba khu vực chiến lược là Châu thổ sông Dương Tử, Châu thổ sông Châu Giang và Khu kinh tế Bố Hải, từng bước mở cửa ra toàn quốc.3 Từng bước cải cách khuôn khổ pháp lý: 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái Thực hiện các cam kết gia nhập WTO và dựa trên sự phân tích những điều kiện thực tiễn của Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc đã sửa đổi, ban hành nhiều luật và quy định mới. Những văn bản pháp luật quan trọng gồm: Luật Quản lý và Giám sát Ngân hàng của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Quy định của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về Quản lý các định chế tài chính có vốn nước ngoài và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Những quy định tại các văn bản này đã cung cấp cơ sở vững chắc để tiếp tục tiến trình mở cửa khu vực ngân hàng Trung Quốc. Tháng 12/2003, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Quy chế mua cổ phần tại các định chế tài chính Trung Quốc của các định chế tài chính nước ngoài.