Luận văn Thạc sĩ: Yếu tố ảnh hưởng rủi ro tín dụng NHTM Việt Nam - Phạm Thái Sơn

Hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Microsoft Word để soạn thảo luận văn, khóa luận, và các tài liệu học thuật chuyên nghiệp. Tối ưu hóa định dạng và cấu trúc.

Chuyên ngành

Tài chính-Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng là một trong những thách thức lớn nhất đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Đây là khả năng khách hàng vay không trả được nợ đúng hạn, gây thiệt hại trực tiếp cho ngân hàng. Nghiên cứu của Phạm Thái Sơn (2019) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Tăng trưởng tín dụng liên tục gia tăng qua các năm. Tuy nhiên, nợ xấu vẫn là vấn đề nan giải. Các yếu tố nội tại như quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, cấu trúc sở hữu đóng vai trò quan trọng. Các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng cũng tác động đáng kể. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp ngân hàng xây dựng chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả hơn.

1.1. Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi bên vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Trong hoạt động ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng rủi ro. Bản chất của rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng. Đó là hoạt động nhận tiền gửi và cho vay. Khoảng cách thời gian giữa huy động và cho vay tạo ra rủi ro. Ngân hàng phải đối mặt với tình trạng mất cân đối kỳ hạn. Khách vay có thể gặp khó khăn tài chính do nhiều nguyên nhân. Rủi ro tín dụng không thể loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể quản lý và kiểm soát.

1.2. Phân loại rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng

Rủi ro tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo tính chất, gồm rủi ro vỡ nợ và rủi ro xuống hạng tín dụng. Theo đối tượng, gồm rủi ro tín dụng cá nhân và rủi ro tín dụng doanh nghiệp. Theo nguyên nhân, gồm rủi ro nội sinh và rủi ro ngoại sinh. Rủi ro nội sinh xuất phát từ yếu tố quản trị nội bộ ngân hàng. Rủi ro ngoại sinh đến từ biến động kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phân loại nợ theo 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Mỗi loại đòi hỏi phương pháp quản lý riêng biệt.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng NHTM

Nghiên cứu của Phạm Thái Sơn (2019) đã xác định 8 yếu tố chính ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Đầu tiên là tăng trưởng tín dụng (LG). Tăng trưởng quá nhanh có thể dẫn đến hạ chuẩn cho vay. Thứ hai là quy mô ngân hàng (SIZE). Ngân hàng lớn thường có khả năng đa dạng hóa danh mục tốt hơn. Thứ ba là tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động (CIR). Chỉ số này phản ánh hiệu quả hoạt động. Ngân hàng kém hiệu quả chịu áp lực rủi ro cao hơn. Thứ tư là tỷ lệ thu nhập ròng trước dự phòng trên tổng dư nợ (EBP). Đây là công cụ quản lý lợi nhuận của ngân hàng. Thứ năm là cấu trúc sở hữu (CONC). Sở hữu tập trung có thể ảnh hưởng đến quyết định cho vay. Thứ sáu là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Thứ bảy là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Thứ tám là tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP). Mỗi yếu tố có mức độ tác động khác nhau đến rủi ro tín dụng.

2.1. Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng

Yếu tố nội tại bao gồm các chỉ số đặc trưng của từng ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng (LG) đo lường tốc độ mở rộng quy mô cho vay. Tăng trưởng quá nóng tiềm ẩn rủi ro nợ xấu. Quy mô ngân hàng (SIZE) ảnh hưởng đến khả năng quản lý danh mục. Ngân hàng lớn có nguồn lực dồi dào hơn. Hiệu quả hoạt động thể hiện qua chỉ số CIR. Ngân hàng có chi phí cao thường chấp nhận rủi ro nhiều hơn để bù đắp. Cấu trúc sở hữu (CONC) quyết định chiến lược kinh doanh. Sở hữu nhà nước hay tư nhân tạo ra khác biệt trong quản trị rủi ro. ROE phản ánh khả năng sinh lời và ảnh hưởng đến chính sách dự phòng.

2.2. Các yếu tố vĩ mô tác động đến rủi ro tín dụng

Yếu tố vĩ mô bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng CPI. GDP tăng trưởng cao tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Doanh nghiệp hoạt động tốt, khả năng trả nợ cao hơn. Ngược lại, suy thoái kinh tế làm gia tăng nợ xấu. CPI phản ánh mức độ lạm phát trong nền kinh tế. Lạm phát cao làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ. Theo nghiên cứu, GDP có ảnh hưởng ngược chiều với rủi ro tín dụng. CPI có ảnh hưởng thuận chiều. Ngân hàng cần theo dõi sát sao các chỉ số vĩ mô. Điều này giúp dự báo và phòng ngừa rủi ro hiệu quả hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu và mô hình phân tích rủi ro tín dụng

Phạm Thái Sơn (2019) sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Giai đoạn nghiên cứu từ năm 2010 đến 2018. Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng đầu tiên. Mục đích là khái quát đặc tính cơ bản của bộ dữ liệu. Tiếp theo, phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được sử dụng. Mô hình này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Mô hình nghiên cứu kiểm định 8 giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến. Biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu. Các biến giải thích bao gồm LG, SIZE, CIR, EBP, CONC, ROE, CPI, GDP. Quy trình nghiên cứu đảm bảo tính khoa học và hệ thống. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực chứng cho các đề xuất quản trị rủi ro.

3.1. Thiết kế mô hình nghiên cứu rủi ro tín dụng

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tài chính ngân hàng. Tám biến độc lập được lựa chọn kỹ lưỡng. Biến phụ thuộc là tỷ lệ rủi ro tín dụng (NPL). Phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa các biến. Giả thuyết 1: Tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng thuận chiều. Giả thuyết 2: Quy mô ngân hàng có ảnh hưởng ngược chiều. Giả thuyết 3: Hiệu quả hoạt động CIR có ảnh hưởng thuận chiều. Các giả thuyết còn lại kiểm định mối quan hệ với EBP, ROE, CONC, GDP, CPI. Mô hình được kiểm định đa cộng tuyến, tương quan tự hồi quy. Điều này đảm bảo độ tin cậy của kết quả ước lượng.

3.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính hàng năm. Nguồn dữ liệu đến từ Ngân hàng Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán. Mẫu nghiên cứu bao gồm các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết. Giai đoạn 2010-2018 đảm bảo đủ dài để đánh giá xu hướng. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata và Eviews. Thống kê mô tả tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, min, max. Ma trận tương quan kiểm tra mối quan hệ giữa các biến. Kiểm định Hausman xác định mô hình phù hợp. Phương pháp GLS xử lý vấn đề dị phương sai và tương quan chuỗi. Quy trình đảm bảo tính chính xác và khách quan của nghiên cứu.

IV. Kết luận và ứng dụng quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng

Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng. Tăng trưởng tín dụng, hiệu quả hoạt động và quy mô ngân hàng là những yếu tố nội tại quan trọng. Các chỉ số vĩ mô GDP và CPI cũng tác động rõ rệt. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn. Ngân hàng cần kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng hợp lý. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động giúp giảm áp lực rủi ro. Đa dạng hóa danh mục cho vay là giải pháp hữu hiệu. Ngân hàng nên xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro sớm. Theo dõi sát sao diễn biến kinh tế vĩ mô. Đào tạo nhân sự quản trị rủi ro chuyên nghiệp. Áp dụng công nghệ trong phân tích tín dụng. Các giải pháp này giúp ngân hàng thương mại Việt Nam phát triển bền vững. Đồng thời góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.

4.1. Giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Giải pháp đầu tiên là kiểm soát chất lượng tín dụng ngay từ khâu thẩm định. Ngân hàng cần xây dựng tiêu chí đánh giá khách hàng chặt chẽ. Thứ hai, đa dạng hóa danh mục cho vay theo ngành nghề và khu vực. Điều này giảm thiểu rủi ro tập trung. Thứ ba, tăng cường trao đổi thông tin tín dụng qua hệ thống CIC. Thứ tư, áp dụng Basel II và Basel III trong quản trị rủi ro. Thứ năm, xây dựng bộ phận quản trị rủi ro độc lập. Thứ sáu, sử dụng công nghệ Big Data và AI trong phân tích tín dụng. Thứ bảy, đào tạo nâng cao năng lực nhân sự. Thứ tám, tăng cường giám sát nợ tái cơ cấu. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và liên tục.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn quản lý

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong nhiều khía cạnh quản lý ngân hàng. Ban lãnh đạo sử dụng để xây dựng chiến lược kinh doanh. Bộ phận tín dụng áp dụng để đánh giá rủi ro từng khoản vay. Bộ phận kế hoạch sử dụng để dự báo xu hướng nợ xấu. Cơ quan quản lý tham khảo để hoàn thiện chính sách giám sát. Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh hệ số an toàn phù hợp. Trường đại học sử dụng làm tài liệu giảng dạy. Sinh viên và nghiên cứu viên tham khảo cho các đề tài liên quan. Doanh nghiệp hiểu rõ hơn quy trình đánh giá tín dụng. Kết quả cũng hỗ trợ nhà đầu tư đánh giá chất lượng ngân hàng. Ứng dụng rộng rãi góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro toàn ngành.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

30/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các Ngân hàng Thương Mại Chương 3: Mô hình Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM 2. Khái niệm rủi ro: Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những sự kiện có thể xảy ra làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, không thể đo lường được. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thể đo lường được, rủi ro không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn phải tính đến rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược.

Theo Frank Knight: “rủi ro là sự bất chắc có thể đo lường được”1 Allan Willet lại cho rằng “rủi ro là sự bất chắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”2. Theo Peter Rose, rủi ro đối với một ngân hàng có nghĩa là “mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện”3. Nhìn chung, các quan điểm đều cho rằng rủi ro là những bất chắc, diễn ra bất ngờ, ngoài ý muốn của chủ thể. Tóm lại, rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường.Các loại rủi ro cơ bản của NHTM: Rủi ro rất đa dạng, có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là nguyên nhân dẫn đến rủi ro khác - Rủi ro tín dụng: The Basel (1999), rủi ro tín dụng được định nghĩa đơn giản nhất là khả năng người đi vay ngân hàng không đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận.

(2004), Quản trị NHTM, NXB Tài chính, Hà Nội, tr 233 2 Rose P. (2004), Quản trị NHTM, NXB Tài chính, Hà Nội, tr 6 3 Rose P. (2004), Quản trị NHTM, NXB Tài chính, Hà Nội, tr 207 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo Philippe Jorion (2009), rủi ro tín dụng là rủi ro tổn thất nền kinh tế xuất phát từ việc bên đối tác không thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đã thỏa thuận. Rủi ro này được đo lường bằng chi phí bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên đối tác phá sản.

Theo thông tư 02/2103/TT-NHNN, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Tóm lại, rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng với khách hàng, thể hiện qua việc người di vay không trả được nợ hoặc trả nợ cho người cho vay không theo đúng thời gian đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. - Rủi ro lãi suất: Nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản Có hoặc khi giá trị của tài sản thay đổi do lãi suất thị trường biến động. Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn thể hiện khi tỷ lệ lạm phát tăng nhanh hơn lạm phát dự kiến trong khi lãi suất cho vay không thể điều chỉnh được, thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay (lãi suất thực tế âm). Rủi ro lãi suất có mối quan hệ với rủi ro tín dụng thể hiện trên những khía cạnh như: Nếu lãi suất cho vay là cố định trong suốt thời hạn vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, trong khi lãi suất trên thị trường đã giảm xuống, thì khách hàng vay phải chịu áp lực cao hơn trong việc trả nợ gốc và lãi.

Ngược lại, nếu lãi suất cho vay trên thị trường tăng lên, thì những khoản vay mới cần phải xem xét kỹ. Lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu vào của khách hàng, giá thành tăng, sức cạnh tranh giảm, lợi nhuận giảm … ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. - Rủi ro ngoại hối: Rủi ro ngoại hối xảy ra do tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng với nhau cả về số lượng và kỳ hạn. Rủi ro ngoại hối có mối quan hệ với rủi ro tín dụng thể hiện như: Khi tỷ giá hối đoái biến động mạnh có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm một loại ngoại tệ nào đó và để chi trả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cho bên bán, các doanh nghiệp phải mua ngoại tệ với giá cao ngoài dự tính, lợi nhuận kinh doanh giảm, có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay.

Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro lãi ngoãi hối suất Rủi ro Rủi ro NHTM Rủi ro thanh nguồn vốn khoản Rủ ro hoạt Rủi ro hoạt động động ngoại bảng Sơ đồ 1. Các loại rủi ro chủ yếu của NHTM Nguồn: NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Sổ tay tín dụng. - Rủi ro nguồn vốn: + Rủi ro do bị đọng vốn: Do nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng không cho vay được, cũng như không thể chuyển sang được các loại tài sản Có sinh lời khác. Ngân hàng không khai thác hết được tiềm năng sinh lời của tài sản Có, hiệu quả sử dụng vốn giảm, dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh.

Nếu tình trạng này kéo dài mà không được khắc phục có thể ngân hàng sẽ phá sản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Rủi ro do thiếu vốn khả dụng, tức là ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán cho các tài sản Nợ hoặc không đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu của các món vay. - Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền ở ngân hàng ngay lập tức. Để tránh được rủi ro thanh khoản, các ngân hàng phải tính toán được Hệ số thanh khoản của mình, tức là tính được khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay của các tài sản Nợ.

- Rủi ro hoạt động ngoại bảng: Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài sản, nhưng lại ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, vì các hoạt động này có thể tạo ra những tài sản Có và tài sản Nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng. Do trong các hoạt động ngoại bảng ngân hàng thu được phí mà không phải sử dụng đến vốn kinh doanh, nên các hoạt động này có xu hướng ngày càng phát triển. Tuy nhiên, hoạt động ngoại bảng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, nếu ngân hàng không quan tâm đến quản lý, theo dõi các khoản cam kết, bảo lãnh… thì rủi ro hoạt động ngoại bảng sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng. - Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém hiệu quả, ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được.

- Rủi ro quốc gia và rủi ro khác: Nếu tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng, khi đầu tư bằng bản tệ cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài có thể xảy ra rủi ro đầu tư nước ngoài đó là rủi ro quốc gia. Đôi khi, rủi ro quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải khi đầu tư cho các công ty nội địa. Một đảm bảo cho việc thu hồi được vốn gốc và lãi đầu tư ở nước ngoài là việc kiểm soát và dự tính được trạng thái cung cầu vốn và tín dụng trong tương lai của quốc gia mà ngân hàng có ý định đầu tư. Những rủi ro khác xảy ra do thay đổi thuế đột ngột, ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, bão lụt, trộm cắp, lừa đảo, hay rủi ro bắt nguồn từ yếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tố kinh tế vĩ mô như: lạm phát gia tăng, biến động giá cả, thất nghiệp…có thể dẫn đến rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với NHTM 2.1 Đối với hoạt động ngân hàng Khi gặp rủi ro tín dụng, việc ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, trong khi đó ngân hàng phải trả vốn và lãi cho nguồn vốn huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi, ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của NHTM.

Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu tăng cao là suy giảm uy tín, thương hiệu của ngân hàng đối với người gửi tiền. Hậu quả là khả năng huy động vốn của ngân hàng bị sụt giảm, nghiêm trọng hơn có thể đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản do rủi ro thanh khoản tăng cao.2 Đối với nền kinh tế Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chủ thể và nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Do đó rủi ro tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến nần kinh tế. Rủi ro tín dụng khiến cơ hội tiếp cận vốn của khách hàng bị hạn chế, từ đó làm giảm đầu tư cho nền kinh tế, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.

Khi ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay phá sản sã dễ gây ra hiệu ứng dây chuyền trong toàn hệ thống ngân hàng, gây ra khủng hoảng tín dụng hưởng đến nền tài chính trong khu vực và thế giới.3 Đối với khách hàng Đối với khách hàng khi rủi ro tín dụng xảy ra thì họ gần như không thể tiếp cận với các nguồn vốn khác tương tự trong hệ thống ngân hàng do lịch sử vay không tốt. Ngưởi gửi tiền tại ngân hàng có nguy cơ không nhận lại được khoản tiền gốc và lãi tiền gửi nếu các ngân hàng phá sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ