Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của công bằng tổ chức đến sự chia sẻ tri thức của nhân viên trường hợp các công ty công nghệ thông tin tại thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ueh ảnh hưởng của công bằng tổ chức đến sự chia sẻ tri thức của nhân viên trường hợp các công ty, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2020

135
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

1.6. Bố cục đề tài nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Công bằng là gì?

2.2. Công bằng tổ chức

2.2.1. Công bằng phân phối

2.2.2. Công bằng thủ tục

2.2.3. Công bằng về đối xử

2.2.4. Công bằng thời gian

2.2.5. Công bằng không gian

2.3. Chia sẻ tri thức

2.4. Mối quan hệ giữa công bằng tổ chức và chia sẻ tri thức

2.5. Các nghiên cứu phổ biến trước đó

2.5.1. Nghiên cứu John C. Windsor và cộng sự (2012)

2.5.2. Nghiên cứu của Samad Ranjbar Ardakani (2012)

2.5.3. Nghiên cứu của Salih và Selcuk Dereli (2013)

2.5.4. Nghiên cứu của Tayyaba Akram và các cộng sự (2016)

2.5.5. Nghiên cứu của Vandana Tamta* and M.

2.6. Mô hình đề xuất

2.6.1. Công bằng phân phối và chia sẻ tri thức

2.6.2. Công bằng thủ tục và chia sẻ tri thức

2.6.3. Công bằng đối xử và chia sẻ tri thức

2.6.4. Công bằng về thời gian và không gian ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.3. Nghiên cứu định lượng

3.4. Công cụ nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo

4.2. Phân tích nhân tố khám phá

4.2.1. Phân tích EFA cho các biến độc lập

4.2.2. Phân tích EFA cho biến phụ thuộc

4.3. Kết quả kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu

4.4. Xem xét mối quan hệ giữa các biến nhân khẩu học và chia sẻ tri thức

4.4.1. Xem xét mối quan hệ giới tính và chia sẻ tri thức

4.4.2. Xem xét mối quan hệ giữa trình độ và chia sẻ tri thức

4.4.3. Xem xét mối quan hệ giữa biến tuổi và chia sẻ tri thức

4.4.4. Xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và chia sẻ tri thức

4.4.5. Xem xét mối quan hệ giữa thâm niên làm việc và chia sẻ tri thức

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Kết luận về mô hình nghiên cứu đã được kiểm định

5.2. Kết luận về thang đo sử dụng

5.3. So sánh với các nghiên cứu trước đó

5.4. Hàm ý quản trị

5.4.1. Hàm ý về yếu tố công bằng bằng đối xử

5.4.2. Hàm ý yếu tố công bằng thủ tục

5.4.3. Hàm ý cho yếu tố công bằng thời gian

5.4.4. Hàm ý cho yếu tố công bằng không gian

5.4.5. Công bằng phân phối

5.5. Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 03. CRONBACH ALPHA

PHỤ LỤC 04. PHÂN TÍCH EFA

PHỤ LỤC 05. PHÂN TÍCH HỒI QUY

PHỤ LỤC 06. THỐNG KÊ MÔ TẢ

PHỤ LỤC 07. KIỂM ĐỊNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Công Bằng Tổ Chức Đến Chia Sẻ Tri Thức

Trong bối cảnh các công ty công nghệ thông tin tại TP.HCM, công bằng tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức giữa nhân viên. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai yếu tố này, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà công bằng tổ chức có thể ảnh hưởng đến quản lý tri thức trong các tổ chức.

1.1. Khái Niệm Công Bằng Tổ Chức

Công bằng tổ chức được hiểu là sự công bằng trong các quy trình, kết quả và cách thức đối xử giữa các nhân viên trong tổ chức. Các yếu tố như công bằng phân phối, công bằng thủ tục, và công bằng đối xử đều có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và hành vi của nhân viên.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Chia Sẻ Tri Thức

Chia sẻ tri thức là quá trình mà nhân viên trao đổi và cung cấp thông tin, kinh nghiệm cho nhau. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực và sáng tạo.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Chia Sẻ Tri Thức Tại Các Công Ty CNTT

Mặc dù chia sẻ tri thức là cần thiết, nhưng nhiều công ty CNTT tại TP.HCM vẫn gặp phải những thách thức lớn. Những vấn đề này có thể bao gồm sự thiếu hụt công bằng tổ chức, sự cạnh tranh giữa các nhân viên, và văn hóa tổ chức không khuyến khích việc chia sẻ.

2.1. Thiếu Công Bằng Trong Quy Trình Làm Việc

Nhiều nhân viên cảm thấy rằng họ không được đối xử công bằng trong các quy trình làm việc, dẫn đến sự không hài lòng và giảm động lực chia sẻ tri thức.

2.2. Văn Hóa Tổ Chức Không Khuyến Khích

Văn hóa tổ chức có thể ảnh hưởng lớn đến hành vi chia sẻ tri thức. Nếu tổ chức không tạo ra một môi trường thân thiện và khuyến khích, nhân viên sẽ ngần ngại trong việc chia sẻ thông tin.

III. Phương Pháp Nâng Cao Công Bằng Tổ Chức Để Thúc Đẩy Chia Sẻ Tri Thức

Để cải thiện công bằng tổ chức, các công ty CNTT cần áp dụng những phương pháp hiệu quả nhằm khuyến khích chia sẻ tri thức. Những phương pháp này bao gồm cải thiện quy trình đánh giá hiệu suất, tạo ra các chương trình đào tạo và phát triển, và xây dựng một văn hóa tổ chức tích cực.

3.1. Cải Thiện Quy Trình Đánh Giá Hiệu Suất

Cần có một quy trình đánh giá công bằng và minh bạch để nhân viên cảm thấy được công nhận và đánh giá đúng mức. Điều này sẽ khuyến khích họ chia sẻ tri thức hơn.

3.2. Tạo Ra Các Chương Trình Đào Tạo

Các chương trình đào tạo không chỉ giúp nâng cao kỹ năng mà còn tạo cơ hội cho nhân viên giao lưu, chia sẻ tri thức và kinh nghiệm với nhau.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Công Bằng Tổ Chức

Nghiên cứu này không chỉ mang lại lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn tại các công ty CNTT. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa công bằng tổ chứcchia sẻ tri thức sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn hơn trong việc xây dựng môi trường làm việc.

4.1. Các Chính Sách Quản Lý Nguồn Nhân Lực

Các chính sách quản lý nguồn nhân lực cần được thiết kế để đảm bảo sự công bằng và khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức.

4.2. Tạo Môi Trường Làm Việc Tích Cực

Một môi trường làm việc tích cực sẽ giúp nhân viên cảm thấy thoải mái hơn trong việc chia sẻ tri thức và kinh nghiệm của họ.

V. Kết Luận Về Ảnh Hưởng Của Công Bằng Tổ Chức Đến Chia Sẻ Tri Thức

Công bằng tổ chức có ảnh hưởng sâu sắc đến chia sẻ tri thức trong các công ty CNTT tại TP.HCM. Việc cải thiện công bằng tổ chức không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực và sáng tạo.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về công bằng tổ chứcchia sẻ tri thức, đặc biệt là trong bối cảnh các công ty công nghệ thông tin tại Việt Nam.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Doanh Nghiệp

Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc xây dựng một môi trường công bằng và khuyến khích chia sẻ tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của công bằng tổ chức đến sự chia sẻ tri thức của nhân viên trường hợp các công ty công nghệ thông tin tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 cung cấp cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, giới thiệu cho người đọc các khái niệm công bằng, sự công bằng tổ chức và sự chia sẻ tri thức; cách đo lường chúng, cũng như cung cấp cơ sở cho việc lập luận mô hình nghiên cứu và các mối quan hệ.1 Công bằng là gì? Đối với những nhà tư tưởng dân chủ như Pericles (495 – 429 TCN), Solon (638 – 559 TCN) , Tocqueville (1805 – 1859) … thì dân chủ là hình thức căn bản của công bằng, và nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc tối cao của nó. Bình đẳng là đạo đức (Ethos) của dân chủ. Trước câu hỏi, công bằng là gì, thông thường được trả lời rằng: Hạt nhân của công bằng là sự bình đẳng. Từ đó chúng ta cũng thấy rằng bình đẳng không phải là tất cả của công bằng.

Tuy nhiên,thời kỳ sau Immanuel Kant (1724 – 1804), đặc biệt trong (Positivism), người ta thường định nghĩa ngắn gọn sự công bằng trong nguyên tắc bình đẳng, và sự bình đẳng này được thể hiện trong công thức: Đối xử như nhau đối với những cái giống nhau và không như nhau đối với những cái không giống nhau. Arthur Kaufmann phát triển tư tưởng của Radbruch và lập luận rằng, công bằng (theo nghĩa rộng) có ba khía cạnh: sự bình đẳng (công bằng theo nghĩa hẹp), sự phù hợp với mục đích (chính là công bằng xã hội) và sự bảo đảm an toàn pháp lý (hiệu lực của luật) (Kaufmann, 1997, tr. Theo Kaufmann, quan điểm của Aristote về công bằng mà hạt nhân của nó là sự bình đẳng (Gleichheit): đối xử như nhau đối với những cái như nhau và đối xử khác nhau đối với những cái khác nhau, cho đến nay vẫn là xuất phát điểm của nhiều học thuyết triết học pháp quyền phương Tây. Aristote đã phân biệt hai loại công bằng, trong đó sự bình đẳng thể hiện ở hai hình thức khác nhau, đó là công bằng bù trừ (iustitia commutativa) và công bằng phân chia (iustitia distributiva).

Công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 bằng bù trừ là công bằng giữa những cái khác nhau trong tự nhiên, nhưng như nhau trước pháp luật. Công bằng bù trừ có nghĩa là sự bình đẳng tuyệt đối giữa đưa và nhận giữa những cái được pháp luật xem như nhau, chẳng hạn như hàng hóa và giá cả, thiệt hại và bồi thường. Còn công bằng phân chia lại là sự bình đẳng tương quan trong sự đối xử với một nhóm nguời, là sự phân bổ quyền và nghĩa vụ theo các chuẩn độ xứng đáng, khả năng, nhu cầu (Kaufmann, 1997). Kết luận: Kế thừa những tư tưởng về sự công bằng trong lịch sử, Kaufmann đã đưa ra khái niệm về sự công bằng mang tính bao trùm, theo đó công bằng vừa là bình đẳng, vừa là công bằng xã hội và là an toàn pháp lý.2 Công bằng tổ chức.

Công bằng tổ chức đầu tiên được dựa vào lý thuyết công bằng khi mà những người lao động đem đến đầu vào cho tổ chức bao gồm các tri thức, sự nỗ lực, kinh nghiệm, sự chia sẻ v.v cho tổ chức. Vì vậy tương ứng với các đầu vào đã được đề cập thì người nhân viên mong đợi quản lý của họ đối xử công bằng về kết quả như tiền lương, sự đối xử, thăng tiến, phần thưởng đặc biệt, phản hồi trung thực và đánh giá công bằng chính xác trong kết quả thực hiện của họ (Lamber 2003). Công bằng tổ chức xem xét vai trò của sự công bằng và đặc biệt cảm nhận về sự công bằng tại nơi làm việc. Nó là một trong những nhân tố hình thành nên những hành động của nhân viên đối với tổ chức hiện đại ngày nay (Usmani & Jamal, 2013).

Theo như (Greenberg (1990), sự công bằng tổ chức đề cập đến “phạm vi mà trong đó nhân viên thấy rằng quyết định của tổ chức là công bằng”. Sự công bằng tổ chức thì cực kỳ quan trọng bởi vì việc đối xử công bằng dẫn tới tương tác xã hội tốt hơn và tác động đến hiệu quả toàn tổ chức (Coetzee, 2005; Heidari & Saeedi, 2012). Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến những cách mà nhân viên thể hiện hành vi và thái độ đối với công việc. Cái mà có ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng theo hướng tích cực hoặc là theo chiều ngược lại tiêu cực đối với kết quả tổ chức (Usmani & Jamal, 2013).

Với những lưu ý như vậy sẽ dẫn đến những hàm ý tuyệt vời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và quan trọng đối với cá nhân và tổ chức nói chung (Yesil & Dereli, 2013). Mặc dù công bằng tổ chức vẫn là một khái niệm đa chiều nhưng về cơ bản công bằng tổ chức vẫn được định nghĩa đó là “cảm nhận của các cá nhân” về sự công bằng tổ chức mà họ làm việc cho (Coetzee,2005; Cropanzano và Greenberg, 1997; Yesil và Dereli, 2013). Do tầm quan trọng về tính thực tế và lý thuyết của nó nên khái niệm sự công bằng tổ chức đã từ lâu được nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu (Cropanzano, Bowen, và Gilliland, 2007; Fadel và Durcikova, 2014). Theo Greenberg 1990, Sweeney và McFailin 1997 công bằng tổ chức bào gồm hai thành phần: công bằng về thủ tục và công bằng về phân phối.

Theo Whisenant & Smucker 2009 công bằng trong tổ chức bao gồm ba thành phần đó là: công bằng về thủ tục, công bằng về phân phối và công bằng về ứng xử giữa nhà quản lý và nhân viên. Theo Colquitt 2001, Al-Zu’bi 2010 và Iqbal 2013, công bằng tổ chức bao gồm bốn thành phần: công bằng về phân phối, công bằng về thủ tục, công bằng về ứng xử giữa người quản lý và nhân viên và công bằng về thông tin. Còn đối với Tayyaba Akram Shen Lei, Muhammad Jamal Haider, Syed Talib Hussain Lilian Consuelo Mustelier Puig (2017) thì công bằng tổ chức gồm có năm thành phần bào gồm: công bằng về phân phối, công bằng về thủ tục, công bằng về đối xử giữa nhà quản lý với nhân viên, công bằng về thời gian và công bằng về không gian. Tóm lại: Công bằng tổ chức là thuật ngữ đề cập đến cảm nhận của đội ngũ nhân viên mà tại đó họ cảm thấy môi trường làm việc gồm các thủ tục, sự đối xử giữa tổ chức/người quản lý với nhân viên, sự phân chia công việc và các kết quả mà họ nhận được là công bằng.1 Công bằng phân phối Công bằng phân phối đề cập đến cảm nhận công bằng về kết quả mà các cá nhân nhận được từ tổ chức.

Các kết quả này có thể được phân chia dựa tên sự công bằng, sự cần thiết hoặc là sự đóng góp của các cá nhân. Họ đánh giá sự công bằng phân phối thông qua so sánh với những người khác (Alsalem and Alhaiani, 2007). Công bằng phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 phối từ lâu đã được xem là những lý thuyết nền và bắt nguồn từ những lý thuyết về sự công bằng từ những năm 1950 và 1960. Công bằng về phân phối trong lý thuyết được mô tả như là những sự công bằng có liên quan đến sự phân chia các nguồn lực, các kết quả và các quyết định.

Các nguồn lực hoặc là những kết quả có thể hữu hình hoặc vô hình (Adam, 1965). Lý thuyết công bằng khẳng định rằng nhân viên so sánh đầu vào với kết quả mà họ nhận được so với những người khác tương ứng với họ. Đầu vào là những gì mà họ đầu tư cho công việc của họ và kết quả là những gì mà họ nhận được từ tổ chức trả lại (McFarlin, & Sweeney, 1992). Nghiên cứu về lý thuyết công bằng này đã được kiểm tra lại rất nhiều lần.

Hầu hết nghiên cứu này đều tìm thấy thái độ của nhân viên đối với việc đáp lại của tổ chức. Ví dụ nhân viên cảm thấy rằng họ được trả lương thấp hơn chất lượng hoặc số lượng công việc của họ trong khi những người khác thấy rằng họ được trả cao hơn so với mức công việc mà họ thực hiện (Mowday, 1987). Khi nhân viên cảm thấy có một sự không công bằng trong phân phối của tổ chức về phần thưởng, các kết quả liên quan đến đầu vào mà họ cống hiến thì sẽ dẫn đến sự căng thẳng đối với một cá nhân và cá nhân đó buộc phải giải quyết căng thẳng đó (Adams, 1963). Ibragimova (2007) đã khám phá ra sự công bằng trong phân phối của tổ chức đóng vai trò rất quan trọng đối với việc chia sẻ tri thức của một tổ chức.

Khi nhân viên cảm thấy có sự phân phối công bằng của tổ chức thì họ có xu thế nỗ lực thu thập tri thức và đồng thời luôn sẵn lòng chia sẻ nguồn tri thức mà họ có. Theo tác giả Cropanzano, 2007 cho rằng sự công bằng trong phân phối của tổ chức có thể đem lại rất nhiều các lợi ích ví dụ như sự tin tưởng, sự cam kết, sự hợp tác và hành vi công dân tổ chức tốt hơn. Những thuận lợi này đều có thể khuyến khích gia tăng sự chia sẻ tri thức trong tổ chức. Có một số nghiên cứu thực tế ví như tác giả Demirel và Seckin, 2011 đã cho thấy tác động thuận chiều của công bằng phân phối lên sự sẵn sàng chia sẻ tri thức.

Của tác giả Farn and Fu (2004) cũng cho thấy sự công bằng trong phân phối có tác động thuận chiều trực tiếp đến việc chia sẻ tri thức. Trong nghiên cứu của Qianqian và cộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 sự, 2011 cũng đã chỉ ra có mối tương quan thuận chiều giữa sự công bằng phân phối và sự chia sẻ tri thức. Tác giả Lin, 2007 cũng đã chứng minh rằng sự công bằng trong phân phối của tổ chức có tác động gián tiếp đến việc chia sẻ tri thức của nhân viên thông qua hai nhân tố trung gian sự cam kết của tổ chức và sự tin tưởng trong quá trình hợp tác. Như vậy, dựa vào các nghiên cứu này rõ ràng rằng sự công bằng trong phân phối của tổ chức là một trong những nhân tố quan trọng và có ảnh hưởng thuận chiều đến việc chia sẻ tri thức của các nhân viên.2 Công bằng thủ tục Sau mười năm nghiên cứu của Adams từ năm (1965), tác giả Thibaut và Walker (1975) đã khám phá một khía cạnh mới của công bằng tổ chức và đặt tên là sự công bằng về thủ tục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ