Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị nhân lực (mã số: 9340404) với đề tài "Tác động của quản trị tri thức đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hoàng Văn Nam thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Ba Phong và PGS. Đào Thị Thanh Lam. Công trình tiếp cận vấn đề quản trị tổ chức theo phương pháp định lượng kết hợp định tính sơ bộ, đặt trọng tâm vào mối liên hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức, quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động của các tổ chức kinh doanh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo lập luận của tác giả, nền tảng tạo dựng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong thế kỷ 21 đã chuyển dịch căn bản từ các nguồn lực hữu hình sang nguồn lực tri thức (Wong và Aspinwall, 2005; Tan và Wong, 2015). Tri thức được nhìn nhận như tài sản cốt lõi (Alavi và Leidner, 2001; Lee và Choi, 2003), và quản trị tri thức trở thành công cụ hỗ trợ doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh trên thị trường (Nonaka và Takeuchi, 1995; Wong, 2005; Chang và Chuang, 2011; Mills và Smith, 2011; Tseng và Lee, 2014; Grupta và Chopra, 2018). Khi kiểm soát tốt nguồn lực tri thức, doanh nghiệp triển khai sản xuất - kinh doanh hiệu quả thông qua việc chuyển giao, chia sẻ và ứng dụng tri thức của người lao động để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu thị trường (Gold và cộng sự, 2001; Pérez-López và Alegre, 2012; Payal và cộng sự, 2019).
Về mặt thực tiễn, số liệu thống kê trong giai đoạn 2020–2021 cho thấy riêng 6 tháng đầu năm 2021 tại Việt Nam đã có 70.209 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường do chịu ảnh hưởng từ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu và khủng hoảng kinh tế (Bộ Công thương, 2021). Bên cạnh nguyên nhân khách quan, tác giả chỉ ra nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ sự thiếu hụt các hoạt động quản trị tri thức có hệ thống bên trong nội bộ doanh nghiệp. Ngược lại, một số doanh nghiệp nội địa và FDI tại Việt Nam chú trọng vào quản trị tri thức (như Tâm Việt, LG, Honda) vẫn duy trì được hiệu quả hoạt động nhờ khả năng thích ứng, ứng dụng công nghệ và liên tục đổi mới sáng tạo (Nguyễn Văn Nhung, 2021).
Về mặt lý luận, tác giả xác định các khoảng trống nghiên cứu trọng yếu:
- Các nghiên cứu quốc tế trước đây chưa đưa ra được một mô hình tích hợp toàn diện để đánh giá đồng thời tác động của hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Payal và cộng sự, 2019).
- Khung lý thuyết nền tảng của Gold và cộng sự (2001) về năng lực cơ sở hạ tầng tri thức chỉ bao gồm 3 thành tố (văn hóa doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, công nghệ) nhưng thiếu vắng nhân tố "lãnh đạo định hướng tri thức" (knowledge-oriented leadership) – một yếu tố đóng vai trò bảo trợ nguồn lực tài chính, duy trì động lực và làm hình mẫu cho các hoạt động tri thức (Wong và Aspinwall, 2005; Tan và Wong, 2015).
- Các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp thường chỉ sử dụng thang đo đơn hướng tập trung vào kết quả vận hành (operating performance) mà bỏ qua khía cạnh kết quả thị trường (market performance) (Delaney và Huselid, 1996; Gold và cộng sự, 2001; Mills và Smith, 2011).
- Mối quan hệ tương tác trực tiếp giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức phần lớn bị bỏ ngỏ trong các mô hình kiểm định trước đây.
- Dữ liệu thực nghiệm về quản trị tri thức tại Việt Nam còn rất hạn chế, một số nghiên cứu gần đây chủ yếu thực hiện trong môi trường giáo dục đại học (Ngoc-Tan và Gregar, 2019) với bối cảnh và tiêu chí vận hành khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định mục tiêu tổng quát và 4 mục tiêu cụ thể được đánh số như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Kiểm định và ước lượng mô hình về tác động của quá trình quản trị tri thức và năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tới kết quả hoạt động trong các doanh nghiệp gồm kết quả vận hành và kết quả thị trường.
Mục tiêu cụ thể:
- Thứ nhất, xem xét tác động của các nhân tố đơn hướng thuộc (1) năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và (2) quá trình quản trị tri thức đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp gồm (1) kết quả vận hành và (2) kết quả thị trường.
- Thứ hai, xem xét tác động của các nhân tố đa hướng là (1) năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và (2) quá trình quản trị tri thức đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Thứ ba, xem xét tác động của các nhân tố đa hướng là (1) Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức đến (2) quá trình quản trị tri thức trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Thứ tư, dựa trên kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp với mục đích giúp cho các nhà quản lý, nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp có thể đưa ra những biện pháp và chính sách hoàn thiện quá trình quản trị tri thức cũng như xây dựng năng lực cơ sở hạ tầng tri thức vững mạnh để có thể gia tăng được kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị giúp các cơ quan có thẩm quyền ban hành những chủ trương, đường lối để thúc đẩy cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp có được điều kiện thuận lợi để gia tăng các hoạt động quản trị tri thức.
Câu hỏi nghiên cứu
Văn bản luận án liệt kê 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Câu hỏi 1: Lý thuyết nào là phù hợp trong nghiên cứu tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp?
- Câu hỏi 2: Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tác động như thế nào tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp?
- Câu hỏi 3: Quá trình quản trị tri thức tác động như thế nào tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp?
- Câu hỏi 4: Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tác động như thế nào tới quá trình quản trị tri thức của các doanh nghiệp tại Việt Nam?
- Câu hỏi 5: Có những giải pháp nào cần thực hiện nhằm thúc đẩy quá trình quản trị tri thức và năng lực cơ sở hạ tầng tri thức trong các doanh nghiệp tại Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quản trị tri thức (gồm hai khía cạnh: năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức) đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu thực hiện ở cấp độ toàn bộ tổ chức (organization level), không tiếp cận ở cấp độ vi mô của từng cá nhân người lao động. Người đại diện cung cấp thông tin là các nhà quản trị hoặc lãnh đạo am hiểu về hoạt động quản trị tri thức và hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào các doanh nghiệp hoạt động trong 5 nhóm ngành kinh tế trọng điểm: Sản xuất chế tạo, thương mại, dịch vụ, công nghệ thông tin, xây dựng trên địa bàn 31 tỉnh/thành phố thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam (các lĩnh vực này chiếm 79,59% cơ cấu nền kinh tế theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2022).
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi khảo sát trong khung thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/8/2021, thu về 482 phiếu khảo sát hợp lệ từ các nhà quản lý, lãnh đạo có thời gian công tác từ năm 2018 đến thời điểm khảo sát.
- Phạm vi nội dung: Kiểm định mô hình tích hợp mở rộng từ khung nghiên cứu của Gold và cộng sự (2001) cùng Mills và Smith (2011). Đánh giá đồng thời theo hai phương pháp tiếp cận: phân tích đơn hướng (8 biến độc lập tác động tới 2 biến phụ thuộc) và phân tích đa hướng (mối quan hệ giữa cấu trúc tiềm ẩn cấp hai: Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức, Quá trình quản trị tri thức và Kết quả hoạt động).
Hệ thống biến số nghiên cứu trong mô hình:
- Biến độc lập đơn hướng (8 nhân tố):
+ Cơ sở hạ tầng tri thức: Văn hóa doanh nghiệp (VH), Cơ cấu tổ chức (CC), Công nghệ (CN), Lãnh đạo định hướng tri thức (LD).
+ Quá trình quản trị tri thức: Thu nhận tri thức (TN), Chuyển giao tri thức (CG), Ứng dụng tri thức (UD), Bảo vệ tri thức (BV).
- Biến phụ thuộc đơn hướng (2 nhân tố):
+ Kết quả vận hành (OP).
+ Kết quả thị trường (MP).
- Biến đa hướng tổng hợp (3 cấu trúc tiềm ẩn):
+ Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức (CSHT).
+ Quá trình quản trị tri thức (QT-QTTT).
+ Kết quả hoạt động của doanh nghiệp (FP).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Quản trị tri thức và hiệu quả doanh nghiệp là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả quốc tế và trong nước. Văn bản luận án phân loại và hệ thống hóa các dòng nghiên cứu theo từng mảng nội dung chính:
-
Nghiên cứu về bản chất của tri thức và sự sáng tạo tri thức: Khởi nguồn từ quan niệm tri thức của Polanyi (1966) với sự phân tách giữa "tri thức ẩn" (tacit knowledge) và "tri thức hiện" (explicit knowledge). Nonaka và Takeuchi (1995) phát triển mô hình chuyển hóa tri thức SECI (Xã hội hóa - Ngoại hóa - Kết hợp - Nội hóa). Cook và Brown (1999) cùng Vera và Crossan (2003) phân tích mối quan hệ giữa "tri thức" (knowledge) và "thấu hiểu" (knowing), xác định tri thức gắn liền với hành động thực tiễn. Lundvall (1996) phân loại thành: Biết gì (Know-what), Vì sao biết (Know-why), Biết như thế nào (Know-how) và Biết ai (Know-who). De Long và Fahey (2000) phân định ba tầng bậc tri thức: tri thức cá nhân (human), tri thức tập thể/xã hội (social) và tri thức tổ chức/hệ thống (structured).
-
Nghiên cứu về năng lực cơ sở hạ tầng tri thức: Đóng vai trò nền tảng hỗ trợ các hoạt động tri thức. Gold và cộng sự (2001) xác lập mô hình 3 nhân tố: văn hóa, cơ cấu tổ chức và công nghệ. Khung khái niệm này được nhiều tác giả kế thừa và ứng dụng (Mills và Smith, 2011; Alaarj và cộng sự, 2016; Payal và cộng sự, 2019). Bên cạnh đó, một số học giả đề xuất bổ sung các yếu tố khác như:
- Con người và hệ thống quản trị nguồn nhân lực (Lee và Choi, 2003, 2013; Chuang, 2004; Liao và cộng sự, 2010; Chang và Chuang, 2011; Zaied và cộng sự, 2012).
- Cơ chế khen thưởng và động lực tài chính (Ho, 2009; Chuang và cộng sự, 2013).
- Chiến lược định hướng tri thức của tổ chức (Zack, 1999; Wong và Aspinwall, 2005; Tan và Wong, 2015).
- Lãnh đạo định hướng tri thức (Davenport và cộng sự, 1998; Wong và Aspinwall, 2005; Al-Mabrouk, 2006; Yang, 2007; Donate và Pablo, 2015; Rehman và Iqbal, 2020; Gürlek và Çemberci, 2020).
| STT |
Tác giả và năm công bố |
Các thành tố cấu thành năng lực cơ sở hạ tầng tri thức |
| 1 |
Gold và cộng sự (2001) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Công nghệ |
| 2 |
Lee và Choi (2003) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Con người, (4) Công nghệ thông tin |
| 3 |
Chuang (2004) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Nguồn nhân lực, (4) Công nghệ |
| 4 |
Wong và Aspinwall (2005) |
(1) Lãnh đạo định hướng tri thức, (2) Văn hóa, (3) CNTT, (4) Chiến lược, (5) Đánh giá kết quả, (6) Cơ sở vật chất, (7) Quy trình QTTT, (8) Tạo động lực, (9) Nguồn lực, (10) Đào tạo, (11) Nhân lực |
| 5 |
Yang (2007) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Lãnh đạo định hướng tri thức |
| 6 |
Lee và cộng sự (2008) |
(1) Chiến lược và lãnh đạo, (2) Văn hóa doanh nghiệp, (3) Người lao động, (4) Công nghệ thông tin |
| 7 |
Ho (2009) |
(1) Chiến lược và lãnh đạo, (2) Văn hóa doanh nghiệp, (3) Phần thưởng khuyến khích, (4) Công nghệ thông tin |
| 8 |
Liao và cộng sự (2010) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ sở hạ tầng, (3) Cơ cấu tổ chức, (4) Nguồn nhân lực |
| 9 |
Mills và Smith (2011) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu của tổ chức, (3) Công nghệ |
| 10 |
Chang và Chuang (2011) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ sở hạ tầng, (3) Cơ cấu tổ chức, (4) Nguồn nhân lực dựa vào tri thức |
| 11 |
Zaied và cộng sự (2012) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ sở hạ tầng, (3) Cơ cấu tổ chức, (4) Nguồn nhân lực |
| 12 |
Wong và Wong (2011) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Công nghệ, (3) Cơ cấu tổ chức |
| 13 |
Chuang và cộng sự (2013) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Phần thưởng của tổ chức |
| 14 |
Lee và Choi (2013) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Con người, (4) Công nghệ |
| 15 |
Tan và Wong (2015) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Lãnh đạo định hướng tri thức, (3) Cơ sở vật chất và công nghệ, (4) Chiến lược của tổ chức |
| 16 |
Alaarj và cộng sự (2016) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Công nghệ, (3) Cơ cấu tổ chức |
| 17 |
Payal và cộng sự (2019) |
(1) Văn hóa doanh nghiệp, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Công nghệ |
-
Nghiên cứu về quá trình quản trị tri thức: Được định nghĩa là chuỗi các hoạt động tác nghiệp liên tục. Khung quy trình 4 giai đoạn phổ biến nhất bao gồm: Thu nhận tri thức (Knowledge acquisition), Chuyển giao tri thức (Knowledge conversion/sharing), Ứng dụng tri thức (Knowledge application), và Bảo vệ tri thức (Knowledge protection) (Gold và cộng sự, 2001; Mills và Smith, 2011; Tan và Wong, 2015).
-
Nghiên cứu về đo lường kết quả hoạt động doanh nghiệp: Tiếp cận từ các chỉ số tài chính đơn thuần (ROA, ROE, ROS, ROI) theo Huselid (1995), Delery và Doty (1996); chuyển sang phương pháp thẻ điểm cân bằng BSC (Kaplan và Norton, 1996; Ha và cộng sự, 2015); và phương pháp đo lường đa chiều kết hợp kết quả vận hành nội bộ với kết quả thị trường đối ngoại (Delaney và Huselid, 1996; Lu và cộng sự, 2015; Nguyễn Duy Thành, 2020).
-
Các nghiên cứu tại thị trường Việt Nam: Hướng nghiên cứu về quản trị tri thức tại Việt Nam còn sơ khai. Ngoc-Tan và Gregar (2019) nghiên cứu tác động của QTTT trong khu vực giáo dục đại học. Tran và Le (2019), Tran (2020, 2021) phân tích vai trò của lãnh đạo định hướng tri thức trong việc gia tăng sự hài lòng, kích thích đổi mới sáng tạo của người lao động.
Vị trí và giải pháp khoảng trống của luận án
Đặt trong tổng quan tài liệu, luận án của Hoàng Văn Nam định vị nghiên cứu thông qua việc giải quyết trực tiếp các thiếu hụt lý luận và thực tiễn:
- Bổ sung thành tố "Lãnh đạo định hướng tri thức" vào mô hình 3 nhân tố truyền thống của Gold và cộng sự (2001), hình thành cấu trúc cơ sở hạ tầng tri thức hoàn chỉnh gồm 4 nhân tố (văn hóa, cơ cấu tổ chức, công nghệ, lãnh đạo định hướng tri thức). Khác với nghiên cứu định tính của Wong và Aspinwall (2005), luận án xây dựng hệ thống chỉ báo định lượng đo lường cụ thể mức độ cam kết tài chính, cấp phát ngân sách và phong cách dẫn dắt của nhà lãnh đạo.
- Thay thế cách tiếp cận đơn hướng về kết quả hoạt động bằng thang đo đa hướng của Delaney và Huselid (1996) được hiệu chỉnh bởi Lu và cộng sự (2015), phản ánh đồng thời kết quả vận hành (nội tại) và kết quả thị trường (cạnh tranh bên ngoài).
- Thiết lập và kiểm định trực tiếp mối quan hệ tác động từ năng lực cơ sở hạ tầng tri thức sang quá trình quản trị tri thức – mắt xích thường bị bỏ qua trong các nghiên cứu định lượng độc lập trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hai lý thuyết quản trị nền tảng:
-
Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV): Phát triển bởi Wernerfelt (1984) và Barney (1991). Lý thuyết RBV giả định rằng các tổ chức sở hữu tập hợp các nguồn lực không đồng nhất và khó di chuyển. Doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững khi sở hữu các nguồn lực thỏa mãn khung tiêu chuẩn VRIN: Có giá trị (Value), Khan hiếm (Rare), Khó bắt chước hoàn toàn (Imperfect Imitability), và Không thể thay thế (Non-substitutability). Các nguồn lực này được chia làm 3 nhóm: nguồn lực cơ sở vật chất (máy móc, công nghệ), nguồn nhân lực (tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm) và nguồn lực tổ chức (quy trình, cơ cấu, văn hóa). Mở rộng từ quan điểm của Rumelt (1984) và Chuang (2004), RBV bao hàm cả các "năng lực động" (capabilities). Theo đó, năng lực cơ sở hạ tầng tri thức của doanh nghiệp (bao gồm văn hóa hợp tác, cấu trúc tổ chức linh hoạt, hệ thống công nghệ và sự bảo trợ của lãnh đạo) chính là nguồn lực chiến lược vô hình, thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính VRIN để tạo ra kết quả hoạt động vượt trội (Gold và cộng sự, 2001; Mills và Smith, 2011; Tseng và Lee, 2014; Payal và cộng sự, 2019).
-
Quan điểm dựa trên tri thức (Knowledge-Based View - KBV): Khởi xướng và hoàn thiện bởi Grant (1996a, 1996b), Kogut và Zander (1992), Nonaka và Takeuchi (1995). Lý thuyết KBV mở rộng từ RBV, xem tri thức là nguồn lực sản xuất quan trọng nhất tạo ra giá trị gia tăng và định hình chiến lược của tổ chức. Tri thức tồn tại dưới hai dạng thái: tri thức ẩn (gắn chặt với cá nhân, khó mã hóa) và tri thức hiện (dễ dàng truyền đạt, tài liệu hóa). Grant (1996b) chỉ ra rằng vai trò cốt lõi của doanh nghiệp là tích hợp các tri thức chuyên môn hóa của từng cá nhân thông qua 4 cơ chế phối hợp: (1) Quy định và chỉ thị, (2) Trình tự vận hành chuẩn, (3) Thói quen của tổ chức, và (4) Tương tác giải quyết vấn đề của các nhóm làm việc. Doanh nghiệp nào thiết lập được quá trình quản trị tri thức hiệu quả (thu nhận, chuyển giao, ứng dụng, bảo vệ) sẽ chuyển hóa thành công tri thức ẩn thành tri thức hiện, tối ưu hóa năng lực sản xuất và nâng cao vị thế trên thương trường.
Định nghĩa các khái niệm vận hành trong mô hình
- Tri thức: Tiếp cận theo định nghĩa của Davenport và Prusak (1998), tri thức là sự kết hợp có tính ngữ cảnh giữa kinh nghiệm, giá trị, thông tin bối cảnh và sự thấu hiểu chuyên sâu, cung cấp khung khổ để đánh giá và tích hợp các kinh nghiệm cũng như dữ liệu mới.
- Quản trị tri thức: Luận án định nghĩa quản trị tri thức gồm hai khía cạnh tương hỗ: năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tạo dựng môi trường thuận lợi để thúc đẩy quá trình quản trị tri thức, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh và kết quả hoạt động doanh nghiệp.
- Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức: Tập hợp 4 yếu tố cấu thành:
- Văn hóa doanh nghiệp: Bầu không khí cởi mở, khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm, thừa nhận ý kiến đóng góp và không định kiến với sai sót (Disterer, 2001).
- Cơ cấu tổ chức: Mức độ linh hoạt của hệ thống phân cấp, giảm bớt tính quan liêu nhằm thúc đẩy sự phối hợp liên chức năng (Gold và cộng sự, 2001).
- Công nghệ: Hạ tầng công nghệ thông tin đóng vai trò là "dòng chảy" kết nối dữ liệu, loại bỏ khoảng cách địa lý và hỗ trợ ra quyết định (Gold và cộng sự, 2001).
- Lãnh đạo định hướng tri thức: Hành vi của nhà quản trị trong việc làm gương, khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức và cam kết cung cấp ngân sách, nguồn lực phát triển hạ tầng tri thức (Wong và Aspinwall, 2005; Donate và Pablo, 2015).
- Quá trình quản trị tri thức: Tập hợp 4 tiến trình tác nghiệp:
- Thu nhận tri thức: Tìm kiếm, thu thập thông tin và chuyên môn từ khách hàng, đối tác, đối thủ và nội bộ tổ chức (Grant, 1996b).
- Chuyển giao tri thức: Phổ biến, chia sẻ và chuyển đổi kiến thức thu thập được thành tài liệu hữu ích phục vụ toàn đơn vị (Mills và Smith, 2011).
- Ứng dụng tri thức: Sử dụng tri thức vào giải quyết các bài toán tác nghiệp, tối ưu hóa sản xuất và đổi mới sản phẩm, dịch vụ (Gold và cộng sự, 2001).
- Bảo vệ tri thức: Thiết lập hệ thống bảo mật, bằng sáng chế, quy tắc làm việc và phân quyền công nghệ nhằm tránh thất thoát tài sản trí tuệ (Lee và Yang, 2000).
- Kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Đánh giá dựa trên 2 khía cạnh tài chính và phi tài chính theo Lu và cộng sự (2015):
- Kết quả vận hành: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), mức gia tăng tổng tài sản, lợi nhuận và tinh thần làm việc của người lao động.
- Kết quả thị trường: Doanh số tổng thể, mức tăng trưởng doanh số, thị phần, vị thế cạnh tranh so với đối thủ cùng ngành.
Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu thực nghiệm
Nghiên cứu áp dụng thiết kế kết hợp hai giai đoạn:
- Nghiên cứu định tính sơ bộ: Thực hiện rà soát các nghiên cứu tiền trạm để hiệu chỉnh, thích nghi thang đo vào bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam. Giai đoạn này bổ sung nhân tố "lãnh đạo định hướng tri thức" vào nhóm biến hạ tầng tri thức và bổ sung thêm 01 chỉ báo mới cho thang đo công nghệ của Gold và cộng sự (2001): "Công nghệ cho phép phân tích dữ liệu và hỗ trợ đưa ra quyết định".
- Nghiên cứu định lượng chính thức:
- Công cụ thu thập: Bảng hỏi cấu trúc chuẩn hóa, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý).
- Chọn mẫu và thu thập dữ liệu: Tiến hành điều tra từ 1/5/2021 đến 31/8/2021. Đối tượng khảo sát là các nhà quản trị hoặc lãnh đạo am hiểu sâu sắc về hoạt động của doanh nghiệp (mỗi doanh nghiệp chỉ lấy ý kiến duy nhất của 1 nhà quản trị để đảm bảo tính đại diện ở cấp độ tổ chức). Thu về tổng cộng 482 bảng hỏi hợp lệ tại 31 tỉnh/thành phố trên cả 3 miền, thuộc 5 khối ngành: Sản xuất chế tạo, thương mại, dịch vụ, công nghệ thông tin, xây dựng.
- Quy trình xử lý dữ liệu: Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng các công cụ kinh tế lượng qua các bước:
- Thống kê mô tả đối tượng khảo sát và thực trạng các biến nghiên cứu.
- Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha.
- Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các biến độc lập và biến phụ thuộc.
- Phân tích ma trận hệ số tương quan Pearson giữa các cặp biến đơn hướng và đa hướng.
- Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares - OLS) để ước lượng các hệ số tác động trong mô hình đơn hướng, mô hình đa hướng tổng thể và mô hình tác động của cơ sở hạ tầng tri thức tới quá trình quản trị tri thức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh điển về quản trị tri thức và kết quả hoạt động doanh nghiệp. Tác giả phân tích lịch sử tiến triển của khái niệm tri thức từ góc độ triết học sang quản trị kinh doanh, làm rõ sự tương tác giữa tri thức ẩn và tri thức hiện thông qua 4 giai đoạn chuyển hóa của mô hình SECI (Nonaka và Takeuchi, 1995):
- Giai đoạn 1 (Ẩn sang Ẩn): Xã hội hóa thông qua chia sẻ kinh nghiệm trực tiếp giữa người lao động.
- Giai đoạn 2 (Ẩn sang Hiện): Ngoại hóa thông qua việc diễn đạt tri thức bằng ẩn dụ, mô hình hóa và văn bản.
- Giai đoạn 3 (Hiện sang Hiện): Kết hợp thông qua hệ thống hóa các tài liệu, quy chuẩn thành kho lưu trữ tri thức.
- Giai đoạn 4 (Hiện sang Ẩn): Nội hóa thông qua quá trình học hỏi, đào tạo và thực hành trong công việc.
| Đặc điểm so sánh |
Tri thức ẩn (Tacit Knowledge) |
Tri thức hiện (Explicit Knowledge) |
| Bản chất |
Tính cá nhân, chủ quan, trực giác, "tri thức trong hành động". |
Khách quan, logic, dựa trên dữ liệu cứng và quy tắc hệ thống. |
| Khả năng mã hóa |
Khó diễn đạt bằng lời nói, công thức, phụ thuộc ngữ cảnh. |
Dễ mã hóa, lưu trữ dạng văn bản, tài liệu, số liệu. |
| Phương thức chuyển giao |
Huấn luyện trực tiếp, cố vấn một kèm một, giao lưu xã hội. |
Chuyển giao qua tài liệu, sản phẩm, quy trình đào tạo, thư viện. |
| Mục đích sử dụng |
Thích ứng nhanh với tình huống mới, tạo bí quyết chuyên sâu. |
Sao chép, phổ biến, áp dụng đồng bộ trong toàn tổ chức. |
Chương 1 cũng tổng kết sâu sắc cơ sở lý luận của RBV (Barney, 1991) và KBV (Grant, 1996b), chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức, quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu tích hợp và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu chính:
- Các nhân tố của năng lực cơ sở hạ tầng tri thức (văn hóa, cơ cấu, công nghệ, lãnh đạo định hướng tri thức) có tác động tích cực đến kết quả vận hành và kết quả thị trường.
- Các nhân tố của quá trình quản trị tri thức (thu nhận, chuyển giao, ứng dụng, bảo vệ) có tác động tích cực đến kết quả vận hành và kết quả thị trường.
- Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức có tác động tích cực thúc đẩy quá trình quản trị tri thức trong doanh nghiệp.
- Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức (tiếp cận đa hướng) có tác động tích cực đến kết quả hoạt động tổng thể của doanh nghiệp.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thiết kế nghiên cứu từ nghiên cứu định tính sơ bộ đến nghiên cứu định lượng chính thức.
- Hệ thống thang đo kế thừa từ các công trình quốc tế có uy tín: Thang đo văn hóa doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, công nghệ, thu nhận, chuyển giao, ứng dụng, bảo vệ tri thức kế thừa từ Gold và cộng sự (2001) và Mills và Smith (2011); thang đo lãnh đạo định hướng tri thức kế thừa và phát triển từ Wong và Aspinwall (2005); thang đo kết quả vận hành và kết quả thị trường kế thừa từ Delaney và Huselid (1996) cùng Lu và cộng sự (2015).
- Tác giả chi tiết hóa bảng mã hóa các biến quan sát, diễn đạt lại ngôn ngữ tiếng Việt phù hợp với nhận thức của giới quản trị kinh doanh tại Việt Nam.
- Trình bày quy trình chọn mẫu phân tầng phi ngẫu nhiên tại 31 tỉnh/thành phố trên 3 miền Bắc, Trung, Nam, thu về 482 phiếu hợp lệ đạt yêu cầu phân tích kinh tế lượng.
- Thiết lập quy trình phân tích định lượng chặt chẽ: Thống kê mô tả -> Kiểm định Cronbach's Alpha -> Phân tích EFA -> Kiểm định tương quan Pearson -> Phân tích hồi quy đa biến OLS.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm thông qua hệ thống bảng biểu số liệu thống kê:
- Kiểm định thang đo: Toàn bộ thang đo của các biến độc lập (VH, CC, CN, LD, TN, CG, UD, BV) và biến phụ thuộc (OP, MP) đều đạt độ tin cậy nội tại cao qua hệ số Cronbach's Alpha và thỏa mãn điều kiện phân tích EFA (các biến quan sát tải lên đúng nhân tố lý thuyết, hệ số tải nhân tố và phương sai trích đạt chuẩn thống kê).
- Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (N = 482): Phân tích cơ cấu đối tượng khảo sát theo địa phương (31 tỉnh/thành phố), tỷ lệ giới tính, nhóm tuổi, vị trí quản trị (lãnh đạo cấp cao, trưởng/phó phòng ban) và trình độ học vấn của người trả lời.
- Thống kê mô tả thực trạng các biến nghiên cứu: Đánh giá điểm trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn của các biến quan sát đo lường văn hóa doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, công nghệ, lãnh đạo định hướng tri thức, thu nhận, chuyển giao, ứng dụng, bảo vệ tri thức, kết quả vận hành và kết quả thị trường.
- Phân tích tương quan Pearson: Xác nhận mối tương quan thuận chiều, có ý nghĩa thống kê giữa các nhân tố hạ tầng tri thức, quá trình quản trị tri thức với kết quả vận hành và kết quả thị trường.
- Kết quả phân tích hồi quy OLS:
- Mô hình đơn hướng: Đánh giá trọng số tác động riêng lẻ của từng nhân tố thuộc hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức đến kết quả vận hành (OP) và kết quả thị trường (MP). Kết quả chỉ ra các yếu tố đóng góp tích cực và chỉ rõ thứ tự tác động của từng thành tố.
- Mô hình đa hướng: Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức (CSHT) và Quá trình quản trị tri thức (QT-QTTT) đều tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới Kết quả hoạt động chung của doanh nghiệp (FP).
- Mô hình tác động của cơ sở hạ tầng tri thức tới quá trình quản trị tri thức: Khẳng định vai trò nền tảng của cơ sở hạ tầng tri thức khi tác động tích cực và mạnh mẽ đến toàn bộ quá trình thu nhận, chuyển giao, ứng dụng và bảo vệ tri thức của doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
Chương 4 dành dung lượng để thảo luận sâu các kết quả nghiên cứu trong tương quan so sánh với các công bố quốc tế:
- Khẳng định tính tương đồng và sự khác biệt của bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam so với các nước phát triển. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng đặc thù của nhân tố "lãnh đạo định hướng tri thức" và "văn hóa doanh nghiệp" trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
- Đúc rút các hàm ý quản trị, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động:
- Giải pháp về văn hóa: Xây dựng môi trường tin cậy, tôn trọng sự sáng tạo, xóa bỏ tâm lý giấu nghề của người lao động.
- Giải pháp về cơ cấu tổ chức: Tái thiết kế sơ đồ tổ chức theo hướng phẳng hóa, tăng cường tính phân quyền và phối hợp nhóm liên phòng ban.
- Giải pháp về công nghệ: Đầu tư hạ tầng số, triển khai phần mềm quản lý kho tri thức, ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn phục vụ ra quyết định kinh doanh.
- Giải pháp về lãnh đạo: Nâng cao nhận thức của lãnh đạo về vốn tri thức, thiết lập quỹ ngân sách định kỳ cho các hoạt động đào tạo, chuyển giao tri thức và làm hình mẫu trong học tập tổ chức.
- Giải pháp hoàn thiện quy trình QTTT: Chuẩn hóa quy trình thu nhận tri thức từ khách hàng/đối tác, tổ chức diễn đàn chia sẻ nội bộ, cơ chế khuyến khích ứng dụng sáng kiến và tăng cường bảo mật tài sản sở hữu trí tuệ.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương) về hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số.
Kết quả và những đóng góp mới
Dựa trên phần trình bày chính thức của luận án, công trình ghi nhận những đóng góp mới cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn:
Đóng góp về mặt lý luận
- Hoàn thiện mô hình tích hợp về cơ sở hạ tầng tri thức: Luận án đã mở rộng mô hình nghiên cứu kinh điển của Gold và cộng sự (2001) và Mills và Smith (2011) bằng việc bổ sung nhân tố "Lãnh đạo định hướng tri thức" vào nhóm năng lực cơ sở hạ tầng tri thức. Luận án khắc phục được hạn chế của nghiên cứu Wong và Aspinwall (2005) (chỉ dừng ở phương pháp định tính) và các nghiên cứu định lượng khác (Davenport và cộng sự, 1998; Ho, 2009; Al-Mabrouk, 2006) vốn thiếu vắng các chỉ báo đo lường sự ủng hộ về mặt vật chất, cấp phát ngân sách của lãnh đạo cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng tri thức.
- Bổ sung chỉ báo mới cho thang đo công nghệ: Thông qua nghiên cứu định tính sơ bộ, tác giả đã bổ sung thành công 01 biến quan sát mới vào thang đo công nghệ của Gold và cộng sự (2001): "Công nghệ cho phép phân tích dữ liệu và hỗ trợ đưa ra quyết định", phản ánh sát thực xu hướng chuyển đổi số và công nghệ thông tin trong quản trị hiện đại.
- Ứng dụng thang đo kết quả hoạt động đa hướng: Luận án chuyển đổi cách tiếp cận đo lường kết quả hoạt động từ đơn hướng truyền thống (chỉ đo kết quả vận hành) sang thang đo đa hướng bao gồm cả Kết quả vận hành và Kết quả thị trường dựa trên khung của Delaney và Huselid (1996) và Lu và cộng sự (2015), giúp phản ánh đầy đủ cả hiệu suất nội bộ lẫn năng lực cạnh tranh thị trường tại bối cảnh Việt Nam.
- Kiểm định cơ chế tác động trực tiếp giữa hạ tầng và quy trình tri thức: Luận án làm rõ và lượng hóa thực nghiệm tác động trực tiếp từ năng lực cơ sở hạ tầng tri thức sang quá trình quản trị tri thức, giải quyết mối quan hệ mà nhiều công trình trước đây trên thế giới đã bỏ qua.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm quy mô lớn tại Việt Nam: Với mẫu khảo sát 482 doanh nghiệp tại 31 tỉnh/thành phố, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể về thực trạng quản trị tri thức trong khu vực doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Xác định mức độ ưu tiên quản trị: Kết quả hồi quy chỉ ra rõ những nhân tố hạ tầng và quy trình có trọng số tác động lớn nhất đến kết quả vận hành và kết quả thị trường, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp phân bổ nguồn lực đầu tư có trọng tâm, tránh dàn trải lãng phí.
- Hệ thống hóa kiến nghị đa tầng: Luận án đề xuất quy trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực định hướng tri thức, mô hình đánh giá kết quả đào tạo, cùng các khuyến nghị chính sách gửi tới các cơ quan ban ngành nhằm xây dựng hệ sinh thái kinh tế dựa trên tri thức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án tự chỉ ra các giới hạn nghiên cứu chính:
- Phương pháp thu thập dữ liệu cắt ngang: Dữ liệu khảo sát được thực hiện tại một thời điểm duy nhất (từ 1/5/2021 đến 31/8/2021) trong giai đoạn chịu tác động của dịch bệnh Covid-19, do đó chưa theo dõi và đánh giá được sự biến chuyển của các hoạt động quản trị tri thức và hiệu quả doanh nghiệp theo chuỗi thời gian dài hạn.
- Đối tượng cung cấp thông tin đơn lẻ: Mỗi doanh nghiệp chỉ khảo sát duy nhất 01 đại diện là nhà quản trị/lãnh đạo. Mặc dù điều này đảm bảo tính tổng quát ở cấp độ tổ chức, song kết quả vẫn phản ánh góc nhìn cảm nhận chủ quan của cấp quản lý, chưa đối chiếu được với góc nhìn của nhân viên trực tiếp thực thi.
- Giới hạn phạm vi ngành nghề: Nghiên cứu tập trung vào 5 nhóm ngành (sản xuất chế tạo, thương mại, dịch vụ, CNTT, xây dựng) tại 31 tỉnh/thành phố. Mặc dù chiếm tỷ trọng 79,59% nền kinh tế, mẫu nghiên cứu vẫn chưa bao quát được các ngành đặc thù như nông nghiệp, y tế hoặc các tổ chức công lập.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
Tác giả định hướng các nghiên cứu tương lai nên triển khai theo phương pháp nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal study) để đánh giá độ trễ tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả kinh doanh; đồng thời mở rộng thu thập dữ liệu đa nguồn (multi-source data) từ nhiều cấp bậc nhân sự khác nhau trong cùng một tổ chức để gia tăng tính khách quan của dữ liệu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
- Khung lý thuyết tích hợp giữa RBV (Barney, 1991) và KBV (Grant, 1996b) tại Chương 1 cung cấp nền tảng lập luận vững chắc cho các đề tài về quản trị chiến lược và quản trị nguồn nhân lực.
- Hệ thống thang đo chuẩn hóa (đặc biệt là thang đo Lãnh đạo định hướng tri thức và Thang đo kết quả hoạt động đa hướng tại Chương 2) là nguồn công cụ đo lường đáng tin cậy để kế thừa trong các nghiên cứu định lượng tiếp theo.
- Đối với nhà quản trị và lãnh đạo doanh nghiệp:
- Cung cấp định hướng cụ thể trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng tri thức: không chỉ đầu tư vào phần cứng công nghệ mà phải chú trọng đến văn hóa chia sẻ, tái cấu trúc tổ chức linh hoạt và phong cách lãnh đạo hỗ trợ nguồn lực.
- Các khuyến nghị tại Chương 4 giúp doanh nghiệp xây dựng quy trình quản lý tài sản trí tuệ, giảm thiểu rủi ro thất thoát tri thức khi có sự biến động nhân sự.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách:
- Nguồn dữ liệu thực nghiệm phản ánh trung thực thực trạng chuyển đổi phương thức sản xuất dựa trên tri thức của 482 doanh nghiệp tại 31 tỉnh thành, làm căn cứ ban hành các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã mở rộng mô hình cơ sở hạ tầng tri thức của Gold và cộng sự (2001) như thế nào?
Luận án đã bổ sung nhân tố "Lãnh đạo định hướng tri thức" (Knowledge-oriented leadership) vào mô hình gốc vốn chỉ có 3 thành tố (văn hóa doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức, công nghệ). Đồng thời, luận án bổ sung thêm một chỉ báo quan sát mới cho nhân tố công nghệ là: "Công nghệ cho phép phân tích dữ liệu và hỗ trợ đưa ra quyết định".
2. Thang đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong luận án gồm những khía cạnh nào?
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng thang đo đa hướng bao gồm hai khía cạnh: (1) Kết quả vận hành (gồm các chỉ số ROA, ROS, lợi nhuận, mức gia tăng tổng tài sản, tinh thần nhân viên) và (2) Kết quả thị trường (gồm tổng doanh số, tăng trưởng doanh số, thị phần, vị thế cạnh tranh và kết quả tổng thể), kế thừa từ Delaney và Huselid (1996) cùng Lu và cộng sự (2015).
3. Dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án được thực hiện với quy mô và thời gian nào?
Khảo sát được thực hiện từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/8/2021. Dữ liệu sơ cấp thu về gồm 482 phiếu hợp lệ từ các nhà quản lý, lãnh đạo đại diện cho 482 doanh nghiệp thuộc 5 nhóm ngành (sản xuất chế tạo, thương mại, dịch vụ, CNTT, xây dựng) phân bổ trên 31 tỉnh/thành phố trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam.
4. Hai lý thuyết nền tảng chính được sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu là gì?
Luận án sử dụng hai lý thuyết cốt lõi: (1) Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV) của Wernerfelt (1984) và Barney (1991) để giải thích năng lực cơ sở hạ tầng tri thức như một nguồn lực VRIN tạo lợi thế cạnh tranh; và (2) Quan điểm dựa trên tri thức (Knowledge-Based View - KBV) của Grant (1996b) và Nonaka và Takeuchi (1995) để làm rõ vai trò tích hợp và chuyển hóa tri thức thông qua quá trình quản trị tri thức.
5. Phương pháp phân tích dữ liệu nào được tác giả sử dụng để kiểm định các giả thuyết?
Tác giả sử dụng kết hợp phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm định các mô hình tác động đơn hướng, đa hướng và mối quan hệ trực tiếp từ cơ sở hạ tầng tri thức đến quá trình quản trị tri thức.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hoàng Văn Nam là công trình nghiên cứu thực nghiệm có đóng góp học thuật rõ ràng trong chuyên ngành Quản trị nhân lực tại Việt Nam. Bằng việc tích hợp thành công nhân tố lãnh đạo định hướng tri thức vào khung năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và áp dụng thang đo kết quả hoạt động đa hướng, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế tác động của quản trị tri thức đối với cả hiệu quả vận hành nội bộ và năng lực cạnh tranh thị trường của 482 doanh nghiệp tại 31 tỉnh thành. Các kết quả kiểm định kinh tế lượng trong công trình cung cấp cơ sở khoa học xác thực cho các nhà quản trị trong việc phân bổ nguồn lực xây dựng văn hóa, hạ tầng công nghệ và quy trình tri thức, đồng thời đóng góp căn cứ thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam.