Tác Động Của Quản Trị Tri Thức Đến Kết Quả Hoạt Động Của Doanh Nghiệp Tại Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kinh tế.

Chuyên ngành

Quản Trị Nhân Lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

225
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tri thức và phân loại tri thức

1.2. Quản trị tri thức

1.3. Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức

1.4. Quá trình quản trị tri thức

1.5. Kết quả hoạt động

1.6. Các lý thuyết nền tảng

1.7. Quan điểm dựa trên nguồn lực

1.8. Quan điểm dựa trên tri thức

1.9. Mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức tới kết quả hoạt động

1.10. Mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và kết quả hoạt động

1.11. Mối quan hệ giữa quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động

1.12. Mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức và quá trình quản trị tri thức trong doanh nghiệp

1.13. Khoảng trống nghiên cứu

1.14. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.14.1. Mô hình nghiên cứu

1.14.2. Giả thuyết nghiên cứu

1.15. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Thang đo nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng

2.4. Thiết kế bảng hỏi khảo sát

2.5. Diễn đạt và mã hóa lại thang đo

2.6. Các thông tin về đối tượng khảo sát

2.7. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

2.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả kiểm định thang đo

3.2. Các biến độc lập

3.3. Các biến phụ thuộc

3.4. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu

3.5. Thông tin về đối tượng khảo sát

3.6. Các biến trong mô hình nghiên cứu

3.7. Phân tích tương quan

3.8. Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương nhỏ nhất

3.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu

4.2. Năng lực cơ sở hạ tầng tri thức

4.3. Quá trình quản trị tri thức

4.4. Đóng góp của luận án

4.4.1. Đóng góp về lý luận

4.4.2. Đóng góp về thực tiễn

4.5. Hạn chế của Luận án

4.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Trị Tri Thức và Kết Quả Doanh Nghiệp

Ngày nay, tri thức trở thành nền tảng của lợi thế cạnh tranh thay vì các nguồn lực hữu hình. Quản trị tri thức được công nhận là công cụ để doanh nghiệp duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Doanh nghiệp triển khai sản xuất dựa trên tri thức thông qua chuyển giao, chia sẻ và ứng dụng tri thức của người lao động. Điều này tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh. Quản trị tri thức đóng vai trò quan trọng trong thành công của doanh nghiệp và là chủ đề nghiên cứu được quan tâm trên toàn thế giới. Thế kỷ 21 là thế kỷ của nền kinh tế tri thức, doanh nghiệp sở hữu tri thức sẽ cải thiện kết quả hoạt động. Dưới áp lực cạnh tranh và phát triển công nghệ, quản trị tri thức đóng vai trò thiết yếu trong thành công của doanh nghiệp. Nghiên cứu về tác động của quản trị tri thức đến kết quả hoạt động doanh nghiệp là một đề tài quan trọng, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Quản Trị Tri Thức Trong Doanh Nghiệp

Quản trị tri thức giúp doanh nghiệp hình thành năng lực cơ sở hạ tầng tri thức, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai quá trình quản trị tri thức. Thông qua quá trình này, người lao động được khuyến khích thảo luận và chia sẻ kiến thức, sáng tạo tri thức mới và áp dụng kiến thức vào công việc. Điều này nâng cao năng suất lao độngkết quả hoạt động. Nhiều bằng chứng cho thấy quản trị tri thức giúp doanh nghiệp cải thiện năng suấtkết quả hoạt động.

1.2. Quản Trị Tri Thức Chìa Khóa Của Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững

Các nghiên cứu hiện nay chưa đưa ra được một mô hình tích hợp để đánh giá tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu cho rằng quản trị tri thức bao gồm hai khía cạnh là năng lực cơ sở hạ tầng tri thứcquá trình quản trị tri thức. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay vẫn chưa thống nhất được các yếu tố cấu thành nên năng lực cơ sở hạ tầng tri thứcquá trình quản trị tri thức.

II. Thách Thức và Vấn Đề Nghiên Cứu Quản Trị Tri Thức Hiện Nay

Điều quan trọng là phải xác định được các yếu tố cấu thành nên các hoạt động quản trị tri thức trong doanh nghiệp. Bởi vì việc sử dụng không chính xác hay thiếu hụt các yếu tố của quản trị tri thức sẽ cản trở những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc đạt được những mục tiêu kỳ vọng. Nghiên cứu của Gold và cộng sự (2001) đã đặt nền móng trong việc xác định các yếu tố của năng lực cơ sở hạ tầng tri thứcquá trình quản trị tri thức. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu hiện nay cho rằng năng lực cơ sở hạ tầng tri thức trong nghiên cứu của Gold và cộng sự (2001) đã thiếu hụt một yếu tố quan trọng là “lãnh đạo định hướng tri thức”.

2.1. Thiếu Hụt Yếu Tố Lãnh Đạo Định Hướng Tri Thức Trong Mô Hình

Nhà quản trị đóng vai trò như một hình mẫu trong quản trị tri thức, cũng như hỗ trợ và khuyến khích người lao động trong doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quản trị tri thức. Đồng thời, nhà quản trị còn thể hiện sự ủng hộ đối với các hoạt động quản trị tri thức thông qua việc cung cấp một ngân sách hỗ trợ cho quá trình xây dựng năng lực cơ sở hạ tầng tri thức trong doanh nghiệp. Do đó, lãnh đạo định hướng tri thức được xem là nhân tố quan trọng của năng lực cơ sở hạ tầng tri thức, quyết định tới sự thành công của quản trị tri thức trong doanh nghiệp.

2.2. Đánh Giá Kết Quả Hoạt Động Doanh Nghiệp Thang Đo Đa Chiều

Kết quả hoạt động của doanh nghiệp hiện nay được xác định theo rất nhiều các thang đo khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới thường chỉ sử dụng thang đo đơn hướng để đánh giá kết quả hoạt động bằng việc đánh giá kết quả vận hành của doanh nghiệp. Do vậy, một thang đo đa hướng về kết quả hoạt động bao gồm kết quả vận hànhkết quả thị trường được xây dựng bởi Delaney và Huselid (1996) là quan trọng để đánh giá hoạt động tổng thể của doanh nghiệp theo các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính.

2.3. Bỏ Qua Mối Quan Hệ Giữa Năng Lực và Quá Trình Quản Trị Tri Thức

Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới thường chỉ đánh giá tác động của năng lực cơ sở hạ tầng tri thứcquá trình quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp mà bỏ qua mối quan hệ giữa năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tới quá trình quản trị tri thức. Tuy nhiên, đây là mối quan hệ quan trọng cần được khám phá bởi vì năng lực cơ sở hạ tầng tri thức được xem là một tập hợp của những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp dễ dàng triển khai các hoạt động quản trị tri thức mà nhiều nghiên cứu trước đây trên Thế giới đã không đề cập tới.

III. Giải Pháp Mô Hình Tích Hợp Quản Trị Tri Thức Tại Việt Nam

Trong nghiên cứu này, tác giả đã đánh giá tác động của năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tới quá trình quản trị tri thức trong các doanh nghiệp tại Việt Nam để làm sáng tỏ vai trò cũng như tầm quan trọng của năng lực cơ sở hạ tầng tri thức trong các doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu này đã xây dựng một mô hình tổng hợp bao gồm các yếu tố cấu thành nên năng lực cơ sở hạ tầng tri thứcquá trình quản trị tri thức, đồng thời kiểm định tác động của năng lực cơ sở hạ tầng tri thức tới quá trình quản trị tri thứckết quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam.

3.1. Bổ Sung Lãnh Đạo Định Hướng Tri Thức Vào Mô Hình Nghiên Cứu

Việc mở rộng mô hình nghiên cứu của Gold và cộng sự (2001) bằng cách bổ sung thêm nhân tố “lãnh đạo định hướng tri thức” vào năng lực cơ sở hạ tầng tri thức là điều hết sức cần thiết. Ngoài ra, kết quả hoạt động của doanh nghiệp hiện nay được xác định theo rất nhiều các thang đo khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới thường chỉ sử dụng thang đo đơn hướng để đánh giá kết quả hoạt động bằng việc đánh giá kết quả vận hành của doanh nghiệp.

3.2. Đánh Giá Kết Quả Hoạt Động Đa Chiều Vận Hành và Thị Trường

Một thang đo đa hướng về kết quả hoạt động bao gồm kết quả vận hànhkết quả thị trường được xây dựng bởi Delaney và Huselid (1996) là quan trọng để đánh giá hoạt động tổng thể của doanh nghiệp theo các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Đây là một điểm mới của Luận án vì so với các nghiên cứu trước đây chỉ đánh giá kết quả hoạt động dựa trên kết quả vận hành thì Luận án đã đồng thời đánh giá kết quả hoạt động theo cả kết quả vận hànhkết quả thị trường.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Quản Trị Tri Thức Trong Doanh Nghiệp VN

Hầu hết các nghiên cứu trước đây về tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp thường được thực hiện tại các quốc gia phát triển. Các nghiên cứu về quản trị tri thức tại Việt Nam hiện còn rất mới mẻ. Gần đây, Ngoc-Tan và Gregar (2019) đã đánh giá tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động nhưng nghiên cứu này lại được thực hiện trong môi trường giáo dục đại học với những hoạt động quản trị tri thức và thang đo kết quả hoạt động khác xa so với bối cảnh sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp.

4.1. Vai Trò Của Lãnh Đạo Định Hướng Tri Thức Tại Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế tại Việt Nam, lãnh đạo định hướng tri thức được xem là yếu tố then chốt cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Bởi vì lãnh đạo định hướng tri thức sẽ truyền cảm hứng cho người lao động cống hiến cho công ty. Đồng thời, những nhà lãnh đạo định hướng tri thức sẽ chuyển đổi tri thức thành những hành động cụ thể và thể hiện sự chuyên môn hóa về lãnh đạo bằng cách áp dụng tri thức vào thực tiễn để đạt được những kết quả hoạt động ấn tượng.

4.2. Quản Trị Tri Thức Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Trong Khủng Hoảng

Trong giai đoạn 2020-2021, thống kê cho thấy trong giai đoạn 6 tháng đầu năm 2021, Việt Nam có tổng số 70.209 doanh nghiệp phải rời khỏi thị trường. Nhiều doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng với việc cắt giảm số lượng nhân viên do bị thiếu hụt nguyên vật liệu trên toàn cầu. Ngoài những nguyên nhân khách quan khiến các doanh nghiệp không thể hoạt động, một trong những nguyên nhân chủ quan khiến các doanh nghiệp phải ngừng hoạt động có thể là do thiếu hụt các hoạt động quản trị tri thức trong doanh nghiệp.

V. Kết Luận Tầm Quan Trọng Của Quản Trị Tri Thức Trong Tương Lai

Thế kỷ 21 cả Thế giới đã bước sang giai đoạn kỷ nguyên kinh tế 4.0 (kỷ nguyên của nền kinh tế dựa vào tri thức) nên doanh nghiệp nào có quy trình quản trị tri thức tốt hơn thì doanh nghiệp đó sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh. Cụ thể, một số doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI tại Việt Nam tập trung vào quản trị tri thức đã đạt được rất nhiều thành công, ví dụ như Tâm Việt, LG hay Honda. Điểm chung của tất cả các doanh nghiệp này là các nhà quản trị luôn quan tâm tới việc ứng dụng và sáng tạo tri thức mới giữa người lao động để nâng cao chất lượng của sản phẩm, dịch vụ.

5.1. Công Nghệ Nền Tảng Của Quản Trị Tri Thức Hiệu Quả

Những doanh nghiệp có công nghệ tốt sẽ vẫn hoạt động hiệu quả trong mọi hoàn cảnh bởi vì công nghệ thông tin được xem là “dòng chảy” của doanh nghiệp. Thông qua hệ thống công nghệ thông tin, người lao động có thể tiếp cận nhanh hơn và dễ dàng hơn trong việc cập nhật, chia sẻ và phổ biến thông tin đồng thời giữ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được thực hiện.

5.2. Cơ Cấu Tổ Chức Linh Hoạt Chìa Khóa Để Thích Ứng

Nếu doanh nghiệp xây dựng được cơ cấu tổ chức và linh hoạt giúp cho người lao động có thể chủ động làm việc tại nhà cũng sẽ giúp cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động trong thời kỳ khó khăn. Vì vậy, một nghiên cứu về tác động của quản trị tri thức trong các doanh nghiệp Việt Nam sẽ giúp đánh giá tác động của các yếu tố năng lực cơ sở hạ tầng tri thứcquá trình quản trị tri thức tới kết quả vận hànhkết quả thị trường.

06/06/2025
Tác động của quản trị tri thức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tri thức và phân loại tri thức 1. Khái niệm tri thức Tri thức là một trong những thuật ngữ phổ biến và được tìm kiếm nhiều nhất trên Thế giới (Holden, 2002). Những học giả có đóng góp to lớn và quan trọng nhất cho việc phát triển các lý thuyết liên quan tới tri thức phải kể tới Kogut và Zander (1992), Nonaka và Takeuchi (1995), Grant (1996), Davenport và Prusak (1998).

Tuy nhiên, mỗi học giả lại có cách lập luận và định nghĩa khác nhau về tri thức. Trong đó, Kogut và Zander (1992) định nghĩa tri thức bao gồm các thông tin do các cá nhân nắm giữ và được thể hiện trong các quy tắc hay hoạt động định kỳ mà theo đó các thành viên trong tổ chức có thể hợp tác với nhau để đạt được mục tiêu. Ngoài ra, việc ghi nhận tri thức được thể hiện ra trong các quy tắc gắn liền với tổ chức là rất cần thiết để có thể hiểu được hành vi của doanh nghiệp. Đồng quan điểm với Kogut và Zander (1992), nghiên cứu của Zack (1999) cũng cho rằng mỗi doanh nghiệp là một cái “kho lưu trữ” và tri thức là một quá trình gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp và được tạo ra thông qua các tương tác xã hội.

Bên cạnh đó, dựa trên các nghiên cứu trước đây của Kogut và Zander (1992), Nonaka và Takeuchi (1995) đã kế thừa và phát triển một mô hình giải thích quá trình sáng tạo tri thức trong doanh nghiệp. Theo đó, “tri thức là cơ sở để giải thích hành vi của doanh nghiệp”. Tri thức là một quá trình năng động của con người tìm cách lý giải niềm tin cá nhân đối với sự thật. Tri thức được sử dụng trong mối quan hệ với tri thức của những người khác và tồn tại trong mối tương quan với nhau” (Nonaka và Takeuchi, 1995).

Trong khi đó, Grant (1996) cho rằng “tri thức là nguồn lực sản xuất áp đảo quan trọng trong việc đóng góp vào giá trị gia tăng và tầm quan trọng trong chiến lược. Tri thức bao gồm thông tin, công nghệ, bí quyết và kỹ năng. Các loại tri thức khác nhau sẽ có cách chuyển giao khác nhau”. Ngoài ra, một trong những định nghĩa về tri thức được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới là của Davenport và Prusak (1998).

Trong đó, “Tri thức là sự kết hợp trôi chảy của kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo bối cảnh và sự thấu hiểu để cung cấp một khuôn khổ để đánh giá và kết hợp giữa kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức được bắt nguồn và được áp dụng trong tâm trí của những người hiểu biết. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ được hàm chứa trong các tài liệu, hay các kho tri thức mà 12 còn được hàm chứa trong các quy trình, thông lệ, quy tắc hoạt động của tổ chức” (Davenport và Prusak, 1998). Định nghĩa này cho thấy tri thức có thể đạt được thông qua kinh nghiệm.

Và tri thức được phát triển theo thời gian và thông qua kinh nghiệm bao gồm những gì chúng ta tiếp thu được từ việc học tập chính thức và không chính thức. Do vậy, luận án này sử dụng định nghĩa về tri thức của Davenport và Prusak (1998). Bởi vì, định nghĩa của Davenport và Prusak (1998) phản ánh rất rộng ý nghĩa của tri thức trên tất cả các khía cạnh về nhận thức (giá trị, niềm tin) và hành vi (kinh nghiệm, hành động) của người thấu hiểu tri thức, đồng thời nắm bắt cả khía cạnh khách quan và chủ quan của tri thức. Phân loại tri thức Hiện nay, các học giả trên Thế giới đang đưa ra rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để phân loại tri thức.

Trong luận án này, tác giả chỉ trình bày các loại tri thức phổ biến dưới đây: a. Tri thức ẩn và tri thức hiện Thuật ngữ “tri thức ẩn” (knowledge tacit) và “tri thức hiện” (knowledge explicit) lần đầu xuất hiện trong nghiên cứu của Polanyi (1966). Trong đó, “We can know more than we can tell” – “Chúng ta có thể biết nhiều hơn những gì chúng ta có thể nói” (Planyi, 1966). Thuật ngữ này có nghĩa là chúng ta có thể nắm bắt và chia sẻ một số khía cạnh kiến thức của mình, trong khi một số khía cạnh khác thì chúng ta không thể.

Thông qua phát biểu của Polanyi (1966), chúng ta có thể thấy rằng “kiến thức” rõ ràng là trừu tượng. Tri thức cá nhân dù là tri thức ẩn hay tri thức hiện đều là những nguồn tài nguyên của tổ chức và có thể gia tăng giá trị vào các sản phẩm, khách hàng và cho chính tổ chức (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2021). Dựa trên nghiên cứu của Polanyi (1966), Nonaka (1994) đã phân biệt rõ 2 khái niệm “tri thức ẩn” và “tri thức hiện” như sau: - Tri thức ẩn: Tri thức ẩn thường được xem là “tri thức trong hành động”, là dạng thức chưa được mô tả, mã hóa cũng như chưa tồn tại dưới bất cứ tài liệu nào. Tri thức ẩn mang tính cá nhân, chủ quan, trực giác cá nhân và không rõ ràng như các kỹ năng hay bí quyết.

Tri thức ẩn thường dựa trên trải nghiệm, khó thể hiện bằng lời nói, con số hay công thức. Tri thức ẩn phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh mà nó tồn tại, đồng thời phụ thuộc vào cá nhân cụ thể và do vậy khó được chính thức hóa và truyền đạt (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2021). Tri thức ẩn được cấu thành từ các yếu tố nhận thức và kỹ thuật. Các yếu tố nhận thức tập trung vào các mô hình tinh thần.

Các giá trị tinh thần như quan điểm, niềm tin và bối cảnh sẽ giúp các cá nhân nhận thức và xác định công việc của họ. 13 - Tri thức hiện: Tri thức hiện mang tính khách quan, logic, được thể hiện, giải thích một cách rõ ràng thông qua lời nói, con số hoặc các công thức và không phụ thuộc vào bối cảnh. Loại tri thức này được chia sẻ dưới hình thức dữ liệu “cứng” hay quy tắc. Trong tổ chức, tri thức hiện thường nằm trong các chính sách, hệ thống, tài liệu hướng dẫn, thủ tục (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2021).1 dưới đây đã phân biệt khá chi tiết các đặc điểm của tri thức ẩn và tri thức hiện như sau: Bảng 1.

So sánh đặc điểm của tri thức ẩn và tri thức hiện Tri thức ẩn Tri thức hiện Giúp thích ứng, đối diện với các tình Có thể được phổ biến, sao chép, truy cập huống mới và đặc biệt. và áp dụng trong toàn bộ tổ chức. Bao gồm chuyên môn sâu, bí quyết, sự Sử dụng cho đào tạo, phát triển. Khả năng phối hợp, chia sẻ tầm nhìn, Có thể tổ chức, sắp xếp, hệ thống hóa, truyền đạt văn hóa.

biến tầm nhìn thành tuyên bố sứ mệnh cũng như hướng dẫn thực thi. Được chuyển giao thông qua huấn luyện, Được chuyển giao qua các sản phẩm, dịch gặp mặt trực tiếp và một kèm một. vụ và các quá trình được lưu trữ dưới dạng văn bản hay tài liệu. Trong đó: - Giai đoạn 1: Tri thức ẩn sang tri thức ẩn sẽ được thông qua quá trình giao lưu xã hội.

Đây là một quá trình chia sẻ kinh nghiệm giữa các cá nhân để tạo ra suy nghĩ chung. - Giai đoạn 2: Tri thức ẩn sang tri thức hiện là quá trình thể hiện và làm rõ tri thức bằng ẩn dụ và tương đồng. - Giai đoạn 3: Tri thức hiện sang tri thức hiện là quá trình hệ thống hóa các khái niệm tạo thành một hệ thống tri thức. - Giai đoạn 4: Tri thức hiện đến tri thức ẩn liên quan chặt chẽ đến việc học hỏi, sau đó thực hành.

14 Mô hình SECI của Nonaka và Takeuchi (1995) cho rằng mỗi một phương thức có thể độc lập tạo ra tri thức mới. Tuy nhiên, quá trình sáng tạo tri thức trong tổ chức diễn ra khi cả bốn dạng phương thức tương tác với nhau một cách năng động, bắt đầu bằng sự giao lưu xã hội của các cá nhân, tiếp đến là quá trình ngoại hóa bên trong tập thể, sự kết hợp trong tổ chức, tiếp đó là quá trình nội hóa bên trong tập thể rồi cuối cùng trở lại trong các cá nhân. Quá trình sáng tạo tri thức này được bắt đầu từ các cá nhân, rồi nâng dần lên đến cấp độ nhóm và cuối cùng là đến cấp độ tổ chức. Điều này giúp mang lại sự tích lũy và tăng trưởng tri thức trong doanh nghiệp, qua đó cho phép sự học tập và sáng tạo tri thức mới trong tổ chức (Nonaka và Takeuchi, 1995).

Mô hình về sự tương tác giữa tri thức ẩn và tri thức hiện Nguồn: Nonaka và Takeuchi, 1995 b. Tri thức liên quan tới “kinh nghiệm” và “hành động” Thông qua tổng quan nghiên cứu, có thể thấy tri thức ẩn trong mỗi cá nhân rất khó chuyển giao. Ngoài ra, một số loại kiến thức của tổ chức như giá trị và niềm tin lại không được phản ánh trong các tài liệu được hệ thống hóa nhưng đã được ghi vào trong não bộ của các cá nhân nên không thể chuyển giao thông qua các tài liệu chính thức như email hay các văn bản chính thống. Do đó, cách để làm cho kiến thức ẩn trở nên rõ ràng là học bằng cách “hành động” hoặc học bằng “kinh nghiệm”.

Dựa trên lập luận được đưa ra bởi Polanyi (1983) về sự “thấu hiểu” (Knowing) của tri thức (Knowledge), nghiên cứu của Cook và Brown (1999) cho rằng các định nghĩa về tri thức ẩn và tri thức hiện là không đủ để có thể hiểu bản chất sâu sắc của kiến 15 thức. Trong khi đó, Cook và Brown (1999) cho rằng chúng ra nên biết khái niệm “Thấu hiểu”. Khác với quan điểm của Nonaka và Takeuchi (1995) khi lập luận rằng con người có thể nắm giữ “tri thức ẩn” và “tri thức hiện” thì ngược lại, Cook và Brown cho rằng kiến thức không phải để sở hữu mà phải được thực hành. Xuất phát từ quan điểm xây dựng xã hội (social construction theory), Cook và Brown (1999) kết luận rằng việc tạo ra kiến thức thông qua tương tác xã hội đang diễn ra dựa trên thực tế làm việc trong tổ chức và tri thức được nắm bắt thông qua quá trình tương tác với mọi người và công việc.

Chính vì vậy, tri thức là một quá trình “thấu hiểu” (hiểu biết) và bị ảnh hưởng mật thiết bởi bối cảnh xã hội và văn hóa xung quanh nó (Cook và Brown, 1999). Đặc biệt, dựa trên các nghiên cứu trước đây của Polanyi (1983), Cook và Brown (1999), Lundvall (1996) đã phân loại tri thức thành 4 dạng thức là: Biết gì (Know- what), vì sao biết (Know-why), biết như thế nào (Know-how) và biết ai (Know-who).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác Động Của Quản Trị Tri Thức Đến Kết Quả Hoạt Động Của Doanh Nghiệp Tại Việt Nam" khám phá mối liên hệ giữa quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam. Tác giả phân tích cách mà việc quản lý và chia sẻ tri thức có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện kết quả kinh doanh. Bài viết nhấn mạnh rằng việc áp dụng các chiến lược quản trị tri thức không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình làm việc mà còn tạo ra giá trị bền vững trong dài hạn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kế toán nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động tại các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam, nơi phân tích sâu hơn về quản trị công ty và hiệu quả hoạt động. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng nâng cao hiệu quả tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại nhtmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh sở giao dịch i cũng cung cấp cái nhìn về cách quản lý tài chính có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế xây dựng giải pháp nâng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng thủy lợi và cơ sở hạ tầng hải dương, tài liệu này đề xuất các giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.