Mở đầu: Chương này trình bày về lý do hình thành đề tài, nêu lên các mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và phạm vi thực hiện đề tài. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm: Bối cảnh của nghiên cứu, Định nghĩa về chuyển đổi số và các định nghĩa liên quan đến doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam và giới thiệu sơ lược về các công nghệ đang được áp dụng vào trong thực tiễn doanh nghiệp số ngày nay. Cũng trong chương này, các nghiên cứu đi trước có cùng hướng nghiên cứu về chuyển đổi số cũng được tóm tắt để làm nền tảng cho việc tổng hợp, chọn lọc, định nghĩa các yếu tố, xây dựng mô hình và hình thành các giả thuyết nghiên cứu cho đề tài của tác giả. Chương 3 - Thiết kế nghiên cứu: Chương này trình bày quy trình nghiên cứu dự kiến, thiết kế mẫu, kế thừa và hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh và đối tượng nghiên cứu, trình bày các phương pháp thu thập thông tin, phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Chương này trình bày kết quả nghiên cứu gồm kết quả kiểm định thang đo, phân tích nhân tố, phân tích hồi quy tuyến tính, phân tích phương sai và thảo luận về kết quả nghiên cứu này. Chương 5 – Kết luận và kiến nghị: Chương này đưa ra kết luận và các kiến nghị nhằm nâng cao các tác động của các yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển đổi số thành công trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Song song, chương này sẽ chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. 4 Chương II – Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung nghiên cứu của đề tài là “ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA SỐ, LÃNH ĐẠO SỐ, NĂNG LỰC SỐ, VÀ SỰ NHANH NHẸN CỦA TỔ CHỨC ĐẾN CHUYỂN ĐỔI SỐ: MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở CÁC DNVVN VIỆT NAM”.
Do đó, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan để làm nền tảng và cơ sở cho việc nghiên cứu này về: Khái quát về chuyển đổi số, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Mối liên hê giữa DNVVN và chuyển đổi số, Thực trạng chuyển đổi số của các DNVVN tại Việt Nam, Các công nghệ được sử dụng phổ biến trong chuyển đổi số, Tổng quan nghiên cứu trước, Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất.1 KHÁI QUÁT VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ Có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển đổi số, khái niệm này có thể hiểu rằng chuyển đổi số là một sự tiến triển (evolutionary) trong quá trình tận dụng các năng lực số (digital capabilities) và những công, nghệ nhằm đưa các mô hình, các quá trình hoạt động, và trải nghiệm của khách hàng để tạo ra giá trị (Morakanyane, 2017). Chuyển đổi số cũng được mô tả bằng những, thay đổi được tiến hành bằng công nghệ thông tin như một phương tiện để tự động hóa (toàn phần hoặc một phần) các nhiệm vụ trong tổ chức (Legner và cộng sự, 2017). Quan niệm này còn có thể hiểu là quá trình nhằm cải thiện thực tế bằng cách tiến hành những thay đổi đáng kể trong thuộc tính thông qua công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông, và các công nghệ kết nối (Vial, 2019). Chuyển đổi số phát triển cùng với một quá trình chuyển đổi liên tục các thông tin tương tự (analog) sang số cho toàn bộ chính sách, những quy trình hiện tại, nhu cầu của người dùng dẫn đến việc sửa đổi hoàn chỉnh những thứ hiện có và tạo ra những dịch vụ số mới.
Kết quả đầu ra (outcome) của những nỗ lực chuyển đổi số tập trung vào thỏa mãn nhu cầu người dùng, những cách thức mới trong cung cấp dịch vụ, mở rộng cơ sở người sử dụng dịch vụ (Mergel, Edelmann và Haug, 2019) 5 Chương II – Cơ sở lý thuyết Hình 2.1 Hoạt động chuyển đổi số (Nguồn: Mergel, Edelmann và Haug, 2019) Theo kết quả nghiên cứu của Mergel, Edelmann và Haug (2019), đã khái quát hóa hoạt động chuyển đổi số (Hình 2.1) bao gồm bốn thành tố là: (1) Những lý do chuyển đổi số; (2) Đối tượng thực hiện chuyển đổi số; (3) Quá trình chuyển đổi: và (4) Giá trị của hoạt động chuyển đổi. Dựa trên đề xuất của Mergel, Edelmann và Haug (2019) hoạt động chuyển đổi số trong khu vực công diễn ra khi các tổ chức nhận ra những áp lực đến từ bên trong và bên ngoài của tổ chức. Áp lực rõ nét nhất từ các nhân tố bên ngoài có thể nhận thấy được chính là tốc độ thay đổi về mặt công nghệ - một đặc trưng trong thời kỳ chuyển đổi số (Nadkarni & Prigl, 2021) dẫn đến sự thay đổi trong thói quen sử dụng dịch vụ của người dân. Ngoài ra, trong thực tiễn hoạt động quản lý ngày nay thì những hiểu biết về công nghệ mang lại lợi thế cạnh tranh cho các quốc gia (Antonelli & Feder, 2020).
Tương ứng những dạng áp lực khác nhau (bên ngoài và bên trong), các tổ chức từ đó có thể tập trung xác định những đối tượng thực hiện số hóa (digitization) là những hồ sơ quản lý, các biểu mẫu (hiện vật) hay các quy trình hoạt động. Những yếu tố như văn hóa quan liêu (bureaucratic culture) hay tổ chức cũng thuộc những đối tượng cần “chuyển đổi” nhằm xây dựng những cách nghĩ, cách làm mới, xây dựng những năng lực phù hợp sau khi thực hiện chuyển đổi. Cuối cùng, giá trị của hoạt động chuyển đổi số được đo lường thông qua những đầu ra ngắn hạn đến từ hoạt động số hóa và những kết quả dài hạn hơn khi thay đổi được văn hóa làm việc của tổ chức, những lợi ích này không chỉ không chỉ mang lại cho bản thân tổ chức mà còn tác động sâu rộng đến các bên liên quan (Mergel, Edelmann và Haug, 2019). 6 Chương II - Cơ sở lý thuyết 2.2 CHUYỂN ĐỔI SỐ (DIGITAL TRANSFORMATION), SỐ HÓA DỮ LIỆU (DIGITISATION), SỐ HÓA QUY TRÌNH (DIGITALISATION).
Như vậy, một giai đoạn chuyển đổi số sẽ bao hàm những hoạt động số hóa các dữ liệu hiện có trong tổ chức (ví dụ như hồ sơ, biểu mẫu), đưa những công nghệ mới vào thực tiễn vận hành (ví dụ như cung cấp dịch vụ trực tuyến) và chuyển đổi số (bao hàm việc thay đổi thói quen của người sử dụng, thay cách thức vận hành của một tổ chức theo hướng ứng dụng công nghệ số). Chuyển đổi số được đặc trưng bởi những thay đổi có kế hoạch được xây dựng trên nền tảng công nghệ tiên tiến (Bresciani và cộng sự, 2021). Và khi công nghệ số lan tỏa vào các ngành công nghiệp, nền kinh tế và xã hội, các nhà nghiên cứu và ứng dụng đã tiến hành phân biệt sự khác nhau giữa số hóa dữ liệu (digitisation), số hóa quy trình (digitalisation) và chuyển đổi số (digital transformation). Các thuật ngữ số như chuyển đổi số, số hóa dữ liệu và số hóa quy trình thường bị sử dụng thay thế lẫn nhau trong một số văn bản.
Tuy nhiên, những thuật ngữ trên có sự khác biệt đáng kể về mặt ý nghĩa cần được phân biệt rõ ràng. Số hóa dữ liệu (Digitization): Số hóa đề cập đến việc mã hóa những thông tin tương tự (analog information) sang thông tin số để lưu trữ và truyền tải thông tin (Verhoef và cộng sự, 2021). Số hóa quy trình (Digitalization): Số hóa quy trình nhấn mạnh vào ứng dụng những công nghệ mới vào quy trình hoạt động của tổ chức nhằm tối ưu hóa trải nghiệm người dùng, tăng hiệu quả quản lý (Pagani, 2015). Chuyển đổi số (Digital transformation): Chuyển đổi số nhấn mạnh hơn vào những thay đổi trong văn hóa, tổ chức, những mối quan hệ của tổ chức (Mergel, Edelmann và Haug, 2019).
Có thể thấy, chuyển đổi số chi phối và làm thay đổi cách thức vận hành một tổ chức, vượt lên trên những hoạt động số hóa đơn thuần (Verhoef và cộng sự, 2021). Các dữ liệu hoặc thông tin được số hóa là nguyên liệu đầu vào của số hóa quy trình. Để chuyển đổi số được diễn ra, cần có số hóa quy trình. Từ số hóa dữ liệu đến số hóa quy trình, và từ số hóa quy trình đến chuyển đổi số được xem là các bậc thang trong quá trình hoàn thành số đầy đủ.
Nếu không có số hóa dữ liệu thì không có việc số hóa quy trình, nếu chưa số hóa quy trình thì không thể chuyển đổi số. Số hóa quy trình là một thành phần cấu thành bắt buộc trong chuyển đổi số (Verhoef và cộng sự, 2021). Theo Matzler và cộng sự (2016), các tổ chức có thể sẽ cần phải trải qua số hóa dữ liệu và số hóa quy trình đáng kể để chuyển đổi số thành công. Mối quan hệ cấp bậc của số hóa dữ liệu đến chuyển đổi số được thể hiện trong Hình 2.2 7 Chương II - Cơ sở lý thuyết Hình 2.2 Chuyển đổi số từ số hóa dữ liệu, số hóa quy trình và chuyển đổi số (Nguồn: Matzler và cộng sự, 2016) 2.3 DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ DNVVN được phân loại dựa trên quy mô về lao động hoặc vốn của các doanh nghiệp.
Ở mỗi quốc gia có sự phân biệt khác nhau trong khái niệm DNVVN tùy vào mức lượng hóa theo các tiêu chí. Theo Nghị quyết số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 thì Việt Nam quy định DNVVN là doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn (dưới 100 tỷ VNĐ), lao động (dưới 200 người) (Chính phủ, 2021). Trong khi đó, theo quy định của Ủy ban châu Âu năm 2015 thì DNVVN có tối đa 249 nhân viên và tổng doanh thu hằng năm dưới 50 triệu Euro (Truvé và cộng sự, 2019). Nhìn chung, DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới năm 2019 thì 90% các công ty trên thế giới là DNVVN (Pierenkemper & Gausemeier, 2021). So với các doanh nghiệp lớn, rõ ràng DNVVN có nhiều hạn chế về nguồn lực, công nghệ cũng như các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Tuy nhiên, DNVVN có cấu trúc tổ chức linh động và tinh gọn hơn, dễ chấp nhận rủi ro lớn hơn, giao tiếp được sắp xếp hợp lý với tốc độ nhanh hơn, cũng như nhanh nhẹn hơn trong việc đáp ứng các nhu cầu 2.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ. Tác động của chuyển đổi số đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu.