CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH BƯU ĐIỆN TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI SỐ 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động ngành Bưu điện trong giai đoạn chuyển đổi số 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về động lực Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012) thì “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.
(Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012) Theo Phạm Thuý Hương, Phạm Thị Bích Ngọc (2016) thì “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Khái niệm về tạo động lực Mỗi người làm việc đều có những lý do khác nhau. Người lao động (NLĐ) đều làm việc bởi họ có thể có được những thứ mà họ cần từ công việc.
Những thứ mà NLĐ dành được từ công việc có ảnh hưởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Điều mà nhà quản lý cần làm là sử dụng các động lực để thúc đẩy mọi người thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả cho đơn vị nơi họ làm việc. Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn được sự nỗ lực của mọi người để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Như vậy có thể hiểu: Tạo động lực cho NLĐ là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích NLĐ việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc.
Khái niệm lương và chế độ phúc lợi Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì tiền lương là “số tiền trả cho người lao 15 động để sử dụng sức lực và trí lực của anh ta vào quá trình sản xuất”. (Nguyễn Văn Ngọc, 2006) Theo Nguyễn Tiệp, Lê Thanh Hà (2010) thì “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với quy định tiền lương của Pháp luật lao động”. (Nguyễn Tiệp, Lê Thanh Hà, 2010) Vì vậy, có thể hiểu rằng, tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và NLĐ, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho NLĐ theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện. Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng hỗ trợ về cuộc sống cho NLĐ như: BHXH, trợ cấp thất nghiệp, công tác phí, tiền làm tăng ca, thêm giờ, thăm hỏi ốm đau, thai sản, các khoản thưởng các ngày lễ, tết.
nhằm thỏa mãn phần nào nhu cầu an toàn của NLĐ. Các học thuyết về tạo động lực 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Nhu cầu của con người là một cảm giác, một trạng thái về sự thiếu thốn, sự trống trải về mặt vật chất và tinh thần mà họ mong muốn được đáp ứng. Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: https://gemdigital.vn/)[20] 16 Trong nghiên cứu của Lê Thị Thu Hường, Phan Thị Thuỳ Linh, Nguyễn Văn Thưởng (2018) thì học thuyết của Abraham Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ.
Các nhu cầu này được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao căn cứ vào tầm quan trọng và chia thành 5 bậc như trên. Đối với học thuyết này, khi con người được thoả mãn nhu cầu bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. Hay nói cách khác khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực.
Vì thế, theo Maslow, để tạo động lực cho NLĐ, người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở thứ bậc đó. Thêm vào đó, một khi con người đã thoả mãn yếu tố này rồi thì trong họ sẽ nảy sinh nhu cầu khác cao hơn nhu cầu trước đó. Tuy nhiên để thoả mãn tiếp được nhu cầu cao đó thì một vấn đề đặt ra là vẫn phải duy trì được nhu cầu trước đó. Khi đó mục tiêu họ đặt ra là thoả mãn nhu cầu cao hơn.
Nhu cầu và động cơ của họ kết hợp với mục tiêu mà họ đặt ra sẽ tạo thành hành vi của họ. Vì thế nếu trọng một công ty, chế độ chính sách mà đảm bảo tốt cho NLĐ thì sẽ kích thích NLĐ hăng say làm việc. Hành vi của họ sẽ có tác động tích cực đến quá trình hoạt động của công ty. Mặt khác nếu chế độ chính sách của công ty mà không thoả mãn được nhu cầu cho NLĐ thì sẽ không thể kích thích họ hăng say làm việc được.
Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow được đánh giá rất cao vì nó có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản lý là muốn động viên nhân viên thì cần phải biết NLĐ của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, để từ đó có các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu NLĐ đồng thời bảo đảm đạt đến các mục tiêu của tổ chức. Nhà quản lý sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy NLĐ làm việc tốt hơn, giúp họ yên tâm với công việc hơn bằng cách thoả mãn những nhu cầu hiện tại của họ. Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg Frederick Herzberg chia các nhân tố tạo động lực NLĐ thành hai loại: nhân tố 17 duy trì - thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và nhân tố thúc đẩy - thỏa mãn bản chất bên trong. Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thường.
Mọi NLĐ đều mong muốn nhận được tiền lương tương xứng với sức lực của họ, đơn vị được quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ được thoải mái. Khi các nhân tố này được thỏa mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên. Nhưng nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút. Tập hợp các nhân tố thứ hai là những nhân tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, liên quan đến bản chất công việc.
Khi thiếu vắng các nhân tố thúc đẩy, NLĐ sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần. Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg (Nguồn: http://www.vn)[23] Người quản lý phải đảm bảo cung cấp đủ các nhân tố duy trì, đồng thời xây dựng sự thỏa mãn hoặc động lực thúc đẩy công việc của NLĐ. Về bản chất, các nhân tố duy trì là cần thiết để đảm bảo NLĐ không bất mãn, và động lực là cần thiết để thúc đẩy NLĐ làm việc hướng tới mức hiệu suất cao hơn.
18 Để bắt đầu loại bỏ những thứ gây ra sự không hài lòng của NLĐ, người quản lý cần khắc phục các vấn đề như chính sách không hiệu quả, tiền lương thấp, v. Sau đó, nhà quản lý nên xây dựng văn hóa hợp tác, cung cấp ý nghĩa cho công việc, đưa ra sự lãnh đạo hiệu quả, và thể hiện sự tôn trọng đối với NLĐ. Mỗi hoạt động trên đều sẽ giúp người quản lý giảm bớt sự bất mãn trong công việc và thực hiện bước đầu để hướng tới động viên và sự hài lòng Để tạo ra sự hài lòng, người quản lý cần cung cấp chương trình làm phong phú nội dung công việc cho NLĐ. Điều này được thực hiện bằng cách thiết kế sao cho công việc trở nên bổ ích và mang tính thử thách.
Về cơ bản, NLĐ nên được trao cơ hội để trở nên xuất sắc trong lĩnh vực họ làm tốt nhất. Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Kỳ vọng chính là mong muốn nhận được cái gì sau khi hoàn thành một công việc hoặc một nhiệm vụ nào đó. Nếu ta biết được mong muốn của NLĐ thì sẽ kích thích họ nỗ lực làm việc hơn từ đó sẽ tạo ra thành tích cao hơn. Nếu kích thích đúng thì sẽ tạo ra lợi ích cho cả hai phía là NLĐ và tổ chức.
Nỗ lực của NLĐ căn cứ vào phần thưởng sau khi thực hiện xong công việc mang lại cho họ. Nếu phần thưởng mang lại mà tích cực như tiền lương cao, cơ hội thăng tiến… thì họ sẽ cố gắng, nỗ lực làm việc. Nhưng nếu phần thưởng mang lại tiêu cực như mệt mỏi, nhàm chán, chịu áp lực cao… thì họ cũng có thể cố gắng nhưng đó không phải là động lực mà là sự ép buộc, nếu chịu áp lực quá có thể họ sẽ rời bỏ tổ chức. Học thuyết này nhấn mạnh đến công tác trả công, trả thưởng cho NLĐ.
Đây là một vấn đề rất nhạy cảm và có tác động lớn đối với NLĐ. (Phạm Thị Minh Ly, Đào Thanh Nguyệt Nga, 2016) NLĐ muốn tối đa hóa độ thỏa mãn được kỳ vọng của mình, còn nhà quản lý phải quan tâm đến mức tiền công, tiền thưởng để đảm bảo chi phí đó không vượt quá kết quả làm được của NLĐ nhưng vẫn đảm bảo sức hấp dẫn đối với họ. Học thuyết này do Victor Vroom đưa ra. Học thuyết chỉ ra rằng các cá nhân sẽ có động lực nếu họ tin vào: - Mối quan hệ xác thực giữa các cố gắng và thành tích đạt được; 19 - Thành tích của NLĐ sẽ mang lại cho NLĐ phần thưởng xứng đáng; - Phần thưởng mà NLĐ đạt được sẽ làm thỏa mãn những nhu cầu quan trọng của họ; - Sự mong muốn thỏa mãn các nhu cầu đủ mạnh để NLĐ có những cố gắng cần thiết.