CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn cầu, buộc các doanh nghiệp các nước trên thế giới phải đối mặt với những thách thức lớn và đòi hỏi những sự thay đổi để phù hợp với tiến bộ của công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại. Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tổ chức liên quan trong các lĩnh vực khác của xã hội như truyền thông đại chúng, y học và khoa học. Tại Việt Nam, Thủ tướng chính phủ đã chấp thuận duyệt chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020).
Do đó, việc thực hiện công tác Chuyển đổi số là nội dung rất quan trọng cần tập trung chỉ đạo, ưu tiên triển khai có hiệu quả để góp phần tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ công của Bộ Xây dựng. DTI Chỉ số tổng 2021 Các bộ, cơ quan ngang bộ hợp DTI 1 Bộ Tài chính 0,6321 2 Bộ Kế hoạch và Đầu tư 0,6126 3 Bảo hiểm Xã hội Việt Nam 0,5747 4 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 0,5406 5 Bộ Công Thương 0,5219 6 Bộ Thông tin và Truyền thông 0,5104 7 Bộ Tài nguyên và Môi trường 0,4906 8 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 0,4545 9 Bộ Giao thông vận tải 0,4458 10 Bộ Nội vụ 0,4026 11 Bộ Tư pháp 0,4014 GVHD: PGS. Phạm Hồng Luân | HV: Bùi Bá Vũ 2 DTI Chỉ số tổng 2021 Các bộ, cơ quan ngang bộ hợp DTI 12 Bộ Giáo dục và Đào tạo 0,3750 13 Bộ Y tế 0,3740 14 Bộ Khoa học và Công nghệ 0,3723 15 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 0,3717 16 Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội 0,3704 17 Bộ Xây dựng 0,3612 Bảng 1-1: Bảng Thống kê Chỉ số Chuyển đổi số năm 2021 trong các Bộ ngành tại Việt Nam (Nguồn: https://dti.vn/) Chỉ số thống kê về chuyển đổi số được thể hiện qua biểu đồ sau: Hình 1-1: Biểu đồ thống kê chỉ số Chuyển đổi số của các Bộ ngành tại Việt Nam GVHD: PGS. Phạm Hồng Luân | HV: Bùi Bá Vũ 3 (Nguồn: https://dti.vn/) Đối với các tỉnh thành trên cả nước, công tác xây dựng và triển khai chuyển đổi số giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030 hướng đến việc hoàn thiện chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Cụ thể, các thành phố trẻ, năng động đi đầu về cải cách và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào điều hành quản lý hoặc công tác vận hành của doanh nghiệp đi đầu cả nước như: Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế và Thành phố Hồ Chí Minh đều được xếp hạng cao về chỉ số Chuyển đổi số. Số liệu cụ thể được thể hiện qua biểu đồ xếp hạng chỉ số tổng hợp Chuyển đổi số (DTI) sau: Hình 1-2: Biểu đồ thống kê chỉ số Chuyển đổi số của các tỉnh, thành phố tại Việt Nam (Nguồn: https://dti. Tổng quan về chuyển đổi số ngành xây dựng Thế giới đang trong giai đoạn bắt đầu của Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, một cuộc Cách mạng công nghệ mới, đặc biệt khác với các Cuộc cách mạng trước đây. Về tốc độ, tăng theo hàm lũy thừa; Về phạm vi và chiều sâu, đây là cuộc Cách GVHD: PGS.
Phạm Hồng Luân | HV: Bùi Bá Vũ 4 mạng dựa trên cách mạng số và kết hợp nhiều công nghệ, dẫn đến sự thay đổi chưa từng có tiền lệ trong mô hình kinh tế - xã hội; Về tác động hệ thống, bao gồm sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống, khắp các quốc gia, các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp và toàn xã hội. Cũng như các cuộc cách mạng khác, phải chấp nhận sự “đập bỏ, hy sinh” những cái cũ, lạc hậu để có cái mới, cái nền tảng, phù hợp quy luật phát triển và tiến hóa. Để thực hiện được cuộc Cách mạng này thành công, không để tụt hậu, nhỡ chuyến tàu 4.0, các nước phải thực hiện “Chuyển đổi số”. Việc chuyển đổi số sẽ làm thay đổi thế giới, nhưng không có nghĩa là không có thể điều khiển, can thiệp quá trình này.
Kinh nghiệm của những lần chuyển đổi công nghệ trước đây đã cho thấy, những nước đi đầu trong ứng dụng và phát triển công nghệ mới sẽ luôn là những nước thịnh vượng, phát triển nhất. Hiện nay, định nghĩa về chuyển đổi số chưa có chuẩn hóa, nhiều tổ chức, doanh nghiệp có các định nghĩa riêng của mình, nhưng trên một góc nhìn tổng quát: Chuyển đổi số (Digital Transformation) là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi một cách tổng thể và toàn diện tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tái định hình cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Có thể nói, chuyển đổi số là việc cấp bách nếu muốn phát triển; trên quy mô quốc gia, chuyển đổi số ảnh hưởng ngày càng lớn đến tăng trưởng GDP, năng suất lao động và cơ cấu việc làm. Theo nghiên cứu của Microsoft và IDG tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các sản phẩm và dịch vụ số đóng góp 6% GDP, chiếm tỷ lệ 60% vào năm 2021, chiếm 85% công việc trong khu vực tiếp tục biến đổi trong các năm tiếp theo.
Nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số, hiện nhiều nước đã xây dựng và triển khai chiến lược/chương trình quốc gia về chuyển đổi số, điển hình như Anh, Úc, Đan Mạch, Estonia, Israel, Mexico, Singapore, Thái Lan, Uruguay… Nội dung chuyển đổi số của các nước có khác nhau, phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Chuyển đổi số ngành xây dựng gắn liền với việc ứng dụng mô hình thông tin công trình B.M vào công tác thiết kế, thi công, vận hành dự án. Mô hình thông tin công trình là công nghệ cho phép xây dựng mô hình số, mô hình ảo của công trình trên môi trường máy tính trước khi xây dựng. Mô hình số này miêu tả công trình trên môi trường 3D về hình học và các đặc tính của đối tượng (vật liệu); mối liên hệ; thời gian và trình tự thi công.
Với mô GVHD: PGS. Phạm Hồng Luân | HV: Bùi Bá Vũ 5 hình số này ta có thể xem xét đánh giá về phương án thiết kế, thi công đưa ra các quyết định và điều chỉnh trước khi xây dựng kết quả là giảm lỗi do xung đột thiết kế, phối hợp tốt hơn giữa các bên giúp giảm chi phí của dự án và giảm thời gian thực hiện, mang lại chất lượng sản phẩm xây dựng tốt hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự cần thiết của chuyển đổi số đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực xây dựng Hiện nay, tại Việt Nam việc ứng dụng công nghệ thông tin đối với các đơn vị tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng, thi công, vận hành chưa được thống nhất, đơn lẻ, rời rạc, thiếu tính liên thông giữa các đơn vị, giữa các khâu trong quá trình lập kế hoạch, thiết kế, phân tích lựa chọn phương án, quản lý, điều hành thi công, nghiệm thu hoàn thành cũng như việc kiểm soát hồ sơ (việc lưu trữ các thông tin công tình bằng thủ công, trên giấy tờ lưu kho làm hạn chế tra cứu thông tin, chia sẻ thông tin, thất lạc hồ sơ) và tham mưu, quyết định giải quyết các công việc tương ứng với các quá trình trên còn mất nhiều thời gian, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Đối với cơ quan quản lý nhà nước - Chuyển đổi số giúp các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng, quản lý đô thị có được cái nhìn tổng quát, cụ thể về sự phù hợp của quy hoạch, kiến trúc công trình, đấu nối hạ tầng kỹ thuật… phục vụ quá trình xét duyệt quy hoạch, phương án kiến trúc và cấp phép xây dựng; - Xây dựng đồng bộ quy trình xét duyệt thông qua cổng điện tử một cửa có thể giúp nâng cao chất lượng xét duyệt, cải tiến thủ tục hành chính hướng đến tăng năng suất và hiệu quả cho tất cả các bên; - Việc ứng dụng chuyển đổi số trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng công trình giúp giảm được thời gian nghiên cứu và phê duyệt hồ sơ cấp phép cũng như phục vụ rất có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra công trình xây dựng do các thông tin của công trình được thể hiện logic, đầy đủ và trực quan.
Đối với các đơn vị Chủ đầu tư GVHD: PGS. Phạm Hồng Luân | HV: Bùi Bá Vũ 6 - Chuyển đổi số gắn liền với mô hình thông tin công trình giúp cung cấp cái nhìn trực quan hỗ trợ rất tốt trong quá trình lựa chọn phương án đầu tư, phương án thiết kế, xác định kế hoạch vốn phù hợp với kế hoạch triển khai; giúp chủ đầu tư dễ dàng trong việc xem xét và ra quyết định thông qua các thông tin được tích hợp sẵn trong mô hình; - Việc áp dụng chuyển đổi số giúp giảm thiểu thời gian ngừng chờ xử lý xung đột ngoài ý muốn (xuất phát từ lỗi thiết kế hoặc từ việc không phù hợp giữa thiết kế và thi công) và qua đó cũng góp phần tiết kiệm chi phí cho dự án. Đối với công tác thiết kế xây dựng - Khi áp dụng chuyển đổi số công trình được mô phỏng qua hình ảnh mô hình 3 chiều trực quan sẽ tạo thuận lợi cho việc thuyết trình, đánh giá, lựa chọn giải pháp thiết kế có hiệu quả; - Chuyển đổi số góp phần tăng năng suất, chất lượng thiết kế, thuận lợi trong việc điều chỉnh thiết kế và hạn chế được sai sót trong quá trình thực hiện: Do có sự phối hợp đồng thời của các bộ môn thiết kế, các thông tin thiết kế được hiển thị trực quan nên việc dùng mô hình thông tin sẽ tăng chất lượng thiết kế, giảm đáng kể mâu thuẫn giữa thiết kế tại văn phòng và triển khai thi công ngoài hiện trường.