Chương 1: Giới thiệu chương này sẽ trình bày tóm lược về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, trình bày về khái niệm và những lý thuyết có liên quan tới tác động của công nghệ thông tin tới tăng trưởng kinh tế. Đồng thời trình bày một số kết quả nghiên cứu trước và đưa ra giả thuyết nghiên cứu của đề tài Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày mô tả mô hình nghiên cứu, đo lường các biến số trong mô hình, phương pháp ước lượng và dữ liệu nghiên cứu của luận văn. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, tập trung vào phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích mô hình hồi quy và nhận xét kết quả. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Tác động của năng lực công nghệ thông tin đến tăng trưởng tại các địa phương của Việt Nam Trang 4 Huỳnh Thanh Quang – Lớp ME06BT CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Ở Chương 2, nghiên cứu sẽ trình bày về khái niệm và những lý thuyết có liên quan tới tác động của công nghệ thông tin tới tăng trưởng kinh tế. Đồng thời nghiên cứu cũng trình bày một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước cùng giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Một số khái niệm liên quan Phần viết này sẽ đề cập tới các khái niệm chính yếu được sử dụng trong nghiên cứu như khái niệm về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), khái niệm về chỉ số thông tin và truyền thông tổng hợp (ICT composite index) và khái niệm về tăng trưởng kinh tế.
Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technologies – ICT) là cụm từ thường dùng như là một thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông với công nghệ thông tin hiện đại. Có rất nhiều định nghĩa về công nghệ thông tin từ góc độ nghiên cứu học thuật, từ góc độ của các tổ chức quốc tế, cũng như là từ góc độ tổng hợp của các từ điển chuyên nghành. Căn cứ vào từ điển vật lý (Dictionary of Physics) của Oxford, công nghệ thông tin và truyền thông được định nghĩa là việc ứng dụng máy tính và các phương tiện có liên thông tin truyền thông để lưu trữ, để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lý thông tin, xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc (Daintith, 2009). Các công nghệ này bao gồm máy tính, internet, liên lạc trung gian qua radio, điện thoại cũng như là các phần mềm cần thiết (Chandler và Rod, 2012) Theo luật Công nghệ thông tin của Việt Nam (2006), công nghệ thông tin và truyền thông là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.
Khái niệm chỉ số công nghệ thông tin tổng hợp (ICT index) Để đo lường về năng lực hay khả năng sử dụng và mức độ sẵn sàng cho việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin của một quốc gia hay một khu vực nhất định, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các biến số đo lường cụ thể như số lượng máy tính, số lượng máy điện thoại, số người biết sử dụng máy tính, … tuy nhiên việc đo lường này có một yếu điểm là không thể bao quát hết được các yếu tố liên quan vì vậy nó thiếu tính tổng Tác động của năng lực công nghệ thông tin đến tăng trưởng tại các địa phương của Việt Nam Trang 5 Huỳnh Thanh Quang – Lớp ME06BT quát trong trường hợp phải so sánh năng lực công nghệ thông tin của các khu vực địa lý khác nhau hay định vị chính xác vị trí về năng lực công nghệ thông tin của một khu vực. Chính vì vậy chỉ số đo lường năng lực tổng hợp về công nghệ thông tin được xây dựng để có thể đưa ra cái nhìn toàn thể về vấn đề. Theo Álvarez và Magaña (2007) ICT Index là thước đo phản ánh năng lực tổng hợp về công nghệ thông tin và truyền thông. Chỉ số này phản ánh được toàn bộ thực trạng ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin từ vấn đề hạ tầng, nhân lực, ứng dụng đến chính sách cho CNTT.
Tại Việt Nam, Hội Tin học Việt Nam cùng với Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin (CNTT) đã xây dựng hệ thống chỉ số ICT index và đặt tên là “chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT tại Việt Nam”. Về bản chất đây là chỉ số đo lường thực trạng về năng lực công nghệ thông tin của từng địa phương mỗi năm. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm rộng và được định nghĩa khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu hoặc quản lý. Theo Kuznets (1959), tăng trưởng kinh tế là việc tăng số lượng sản phẩm và số lượng hàng hóa dịch vụ được tiêu dùng.
Theo IMF (2012), tăng trưởng kinh tế là việc tăng giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế qua từng thời kỳ. Theo truyền thống, nó được đo lường bởi tỷ lệ tăng trưởng của GDP so với tổng dân số (tăng trưởng thu nhập trên đầu người) hoặc tăng trưởng GDP thực theo thời gian. Phân tích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Để tìm hiểu tác động của năng lực công nghệ thông tin tới tăng trưởng, nghiên cứu này sẽ bắt đầu bằng việc phân tích nguồn gốc của tăng trưởng trong đó có nhấn mạnh tới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm cả yếu tố công nghệ thông tin tới tăng trưởng. Có nhiều mô hình toán học khác nhau đã được sử dụng để phân tích về nguồn gốc của tăng trưởng như mô hình hàm sản suất Cobb – Douglas (1927), mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1957), mô hình M-R-W của Mankiw, Romer và Weil (1992)…Nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình Production Possibility Frontier (giới hạn về khả năng sản xuất) của Jorgenson (1966).
Mô hình này, được giới thiệu lần đầu tiên vào Tác động của năng lực công nghệ thông tin đến tăng trưởng tại các địa phương của Việt Nam Trang 6 Huỳnh Thanh Quang – Lớp ME06BT năm 1996, cải tiến mô hình của Solow và và được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều nghiên cứu. Dạng mô hình như sau: Y= A. Vốn được phân chia thành bốn thành phần cấu thành nhỏ hơn là vốn dành cho các lĩnh vực phi công nghệ thông tin (non-ICT), vốn dành cho phần cứng (Kc), vốn đầu tư vào phần mềm (Ks), và vốn đầu tư vào thông tin truyền thông (Kt). Để có thể ứng dụng mô hình lý thuyết này ra thực tế, Vu (2010) đã phân tích mô hình như sau: Giả sử vốn Ki (đại diện cho Kn,Kc,Ks, Kt ) có chi phí sử dụng là ci.
Tương ứng với cn là chi phí vốn dành cho việc đầu tư vào khu vực phi công nghệ thông tin, cc cho phần cứng, cs cho phần mềm và ct là cho thông tin truyền thông. Thêm vào đó, L được đo lường bởi số giờ làm việc kiếm được mức lương trung bình là w. Do vậy phần đóng góp của Ki là SKi được tính như sau: SKi = ci*(Ki/YP) Và phần đóng góp của lao động L: SL = wL/YP Trong đó P là giá của sản lượng đầu ra Y. Lúc này mô hình (1) được viết lại như sau: Y = SKnKn + SKcKc + SKsKs + SKtKt + SLL + TFP (2) Mô hình (2) đã thể hiện vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông tới tăng trưởng và được thể hiện ở từng mức đóng góp đặc thù như SKc, SKs, SKt.
Tác động của ICT tới tăng trưởng kinh tế Mô hình (2) đã mô tả vai trò của ICT tới tăng trưởng kinh tế tuy nhiên nó chưa thể hiện chiều hướng tác động của biến số này. Romer (1990), Grossman và Helpman (1991), và Aghion và Howitt (1998) đã cung cấp mô hình lý thuyết đánh giá sự tác động của hoạt động nghiên cứu và phát triển Tác động của năng lực công nghệ thông tin đến tăng trưởng tại các địa phương của Việt Nam Trang 7 Huỳnh Thanh Quang – Lớp ME06BT (bao gồm các yếu tố công nghệ thông tin) tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Các tác giả đã khẳng định rằng hoạt động nghiên cứu và phát triển chính là một động lực cho tăng trưởng kinh tế. Barro và Sala-i-Martin (1995) đã phát triển mô hình “dẫn đầu – theo sau” Leader – Follower”.
Những quốc gia có nền kinh tế dẫn đầu là những quốc gia tập trung vào sự đổi mới trong đó ICT đóng một vai trò quan trọng trong sự đổi mới. Trong khi đó các quốc gia có nền kinh tế theo sau thường là các quốc gia bắt trước sự đổi mới của các quốc gia dẫn đầu. Lý thuyết khuôn mẫu công nghệ được Dosi (1982) và Perez (1983, 2004) đưa ra, ban đầu để giải thích sự vận động có tính chu kỳ của nền kinh tế mà theo họ nguyên nhân cốt lõi của sự vận động ấy nằm ở sự thay đổi công nghệ nền tảng. Shiller (2000) và Freeman (2005) gọi tên “khuôn mẫu ICT” tương ứng với nền kinh tế tri thức.
ICT đã giúp các nền kinh tế nhìn nhận rõ hơn vị trí trung tâm của tri thức trong sản xuất. ICT buộc các doanh nghiệp phải thay đổi cấu trúc tổ chức, cách thức quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, cũng như với các đối tác, nhà cung cấp, khách hàng hướng tới không ngừng kiến tạo tri thức để không bị đào thải khỏi thị trường. Ở mặt vi mô, ICT tác động đến lối sống, thói quen sinh hoạt và làm việc của dân cư…Ở mặt vĩ mô, ICT tác động tích cực tới nền kinh tế. Và cuối cùng chúng ta có được một trật tự kinh tế hoàn toàn mới của nền kinh tế tri thức.
Theo cách lý luận đó, ICT là đòn bẩy, mấu chốt mở ra kinh tế tri thức. Mức độ ảnh hưởng mạnh mẽ của ICT tới các hoạt động kinh tế đã được nhấn mạnh đâu đó, chẳng hạn trong lý thuyết về công nghệ mang mục đích chung (Helpman 1998). Tuy nhiên, chỉ lý thuyết khuôn mẫu công nghệ mới khẳng định chắc chắn rằng sự tác động của ICT là toàn diện trên cả mặt chất và lượng, cả cấu trúc của hệ thống kinh tế- kỹ thuật (techno-economic system) và hệ thống xã hội-thể chế (socio-insitutional system) của nền kinh tế.