PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài này, nhưng tập trung chủ yếu vào quá trình chuyển đổi số (CĐS) nói chung tại các quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp. Số lượng các nghiên cứu đi sâu vào đánh giá mức độ CĐS trong doanh nghiệp, đặc biệt DNNVV còn khá khiêm tốn, nhất là chỉ nghiên cứu riêng quy mô doanh nghiệp này tại một thành phố như Hà Nội. Trong thời gian gần đây, các mô hình và bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển số trong doanh nghiệp, đặc biệt DNNVV, đã thu hút được sự quan tâm của các học giả.
Một số đã đề xuất các mô hình, tiêu chí cụ thể; trong đó nổi bật nhất là bộ tiêu chí của OECD (2022). Tuy nhiên, vẫn chưa có một bộ tiêu chí chuyển sâu đối với DNNVV. Bộ tiêu chí của Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 1970/QĐ-BTTTT ngày 13/12/2021, mặc dù tương đối hoàn thiện và cụ thể cả với loại hình DNNVV, nhưng lại chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào trải khai và công bố kết quả. Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS cũng chưa được quan tâm.
Các công trình về yếu tố ảnh hưởng thường gộp chung các doanh nghiệp để nghiên cứu, trong khi mỗi loại hình, quy mô doanh nghiệp lại có những đặc điểm, điều kiện, thuận lợi, và khó khăn khác nhau như tiến hành CĐS. Đặc biệt, DNNVV lại chiếm phần lớn trong cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng nên việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS trong các doanh nghiệp này trên địa bàn Hà Nội càng trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, CĐS đóng vai trò quan trọng, trở thành xu hướng tất yếu đối với cả quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp và người tiêu dùng trên toàn thế giới. Các chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang có nhận thức đúng đắn và tích cực đối với CĐS.
Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Kỹ thuật số Quốc tế IDC (International Digital Centre), từ năm 2018, CĐS đã trở thành định hướng chiến lược tại nhiều doanh nghiệp, tổ chức trên thế giới. Cụ thể, gần 90% doanh nghiệp toàn cầu đã bắt đầu CĐS, tuy ở các giai đoạn khác nhau như tìm hiểu, nghiên cứu, triển khai, và vận hành. Trên 30% lãnh đạo của các doanh nghiệp khẳng định tầm quan trọng và tính hiệu quả của CĐS trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình (Trịnh Xuân Hưng, 2020). Còn tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trong năm 2021, đã có trên 50% doanh nghiệp ứng dụng các công nghệ số trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trước khi đại dịch COVID-19 diễn ra và lan rộng, trên 25% doanh nghiệp bắt đầu tiến hành CĐS từ khi có dịch bệnh và đang tiếp tục duy trì cho đến hiện tại.
Điều này cho thấy nhận thức của các doanh nghiệp về công nghệ số, CĐS đã được cải thiện rất nhiều. Bên cạnh đó, nhận thức được xu hướng tất yếu của CĐS trong thời đại ngày nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình Chuyển đối số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020, với nhiều chính sách thiết thực hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện CĐS nhằm bắt kịp với xu thế hiện nay. Đặc biệt, từ cuối tháng 1/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thực hiện Chương trình hỗ trợ DNNVV về CĐS, hay còn gọi là SMEdx. Số liệu thống kê cho thấy, Hà Nội là nơi có tỷ lệ các DNNVV sử dụng nền tảng Sedx cao nhất với 34%.
Có thể thấy, các DNNVV ở Hà Nội và chính quyền thành phố rất quan tâm và luôn tích cực, chủ động trong công tác CĐS để tối ưu hóa hoạt động của DN, thúc đẩy phát triển kinh tế thủ đô. Đồng thời, cùng với sự phát triển nhanh chóng và rộng khắp của khoa học công nghệ Internet vạn vật và thương mại điện tử, CĐS không còn là sân chơi chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có thể tiếp cận và tham gia một cách hiệu quả, tìm kiếm cơ hội kinh doanh, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Với đặc điểm hạn chế về vốn, công nghệ, và nguồn nhân lực, nhưng được bù lại bởi tính linh hoạt, khả năng sáng tạo cao và không ngại thử thách, các DNNVV – chiếm đến 98% số lượng doanh nghiệp của Việt Nam và đóng góp khoảng 50% GDP, đang tích cực và chủ động trong quá trình chuyển đối số. Chỉ tính riêng Hà Nội, đến tháng 9/2022, số lượng DNNVV chiếm khoảng 97% tổng số DN đăng ký thành lập, chiếm trên 50% lao động trong các doanh nghiệp toàn thành phố và có đóng góp không nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế, các DNNVV trên cả nước nói chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng còn e ngại, bị động trước xu thế này. Lãnh đạo của nhiều DNNVV vẫn còn thiếu hiểu biết về CĐS. Mặt khác, do hạn chế về nguồn lực, nên các DNNVV chưa dám bước ra khỏi vùng an toàn của mình để thay đổi, hội nhập với xu thế chung của thị trường. Về mặt công nghệ, Việt Nam hiện nay vẫn chưa làm chủ được các hệ thống nền tảng cơ bản, cốt lõi của CĐS nên vẫn phụ thuộc vào các công nghệ có sẵn trên thế giới.
Trong khi đó, mức độ tự động hóa của các DNNVV tại nước ta chưa cao, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu triển khai CĐS. Khó khăn cụ thể khiến các DNNVV chưa thực sự mặn mà với CĐS là do thiếu vốn đầu tư vào nhân lực, kết cấu hạ tầng và công nghệ. Hầu như các DNNVV hiện nay chỉ đầu tư vào điện toán đám mây do không yêu cầu nhiều về vốn và hết cấu hạ tầng công nghệ thông tin. Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả quyết định thực hiện luận án với chủ đề “Nghiên cứu mức độ chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội và hàm ý chính sách cho quản lý”.
Luận án sẽ làm rõ một số vấn đề quan trọng về cả lý thuyết và thực tiễn CĐS tại các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: mức độ CĐS cho DNNVV, các nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến CĐS, các dạng CĐS trong DN và bài học kinh nghiệm rút ra cho các DNNVV. Ngoài ra, luận án sẽ đi sâu phân tích thực trạng mức độ CĐS trong DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội, chỉ ra những thành công đạt được và hạn chế cần khắc phục để thúc đẩy CĐS tại các DN này cũng như giúp các DNNVV đã tham gia CĐS đạt được hiệu quả cao hơn nữa. Từ đó, luận án sẽ đề xuất các giải pháp đẩy mạnh CĐS, trên cơ sở tác động đến các yếu tố tích cực, kiểm soát các yếu tố tiêu cực đến CĐS trong DNNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu mức độ chuyển đổi số, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy CĐS của DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm: - Hệ thống cơ sở lý luận về mức độ CĐS trong DNNVV; xây dựng khung lý luận về mức độ CĐS, các nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS tại các DN nói chung và DNNVV nói riêng, các tiêu chí đánh giá mức độ CĐS và xác lập mô hình và các giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS trong DNNVV. - Phân tích thực trạng CĐS và mức độ CĐS trong DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội; chỉ ra những thành công đạt được và hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện CĐS tại các DN này - Đánh giá tác động các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS trong DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Đề xuất một số hàm ý chính sách thúc đẩy mức độ CĐS trong DNNVV Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, thông qua tác động vào các nội dung CĐS và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS của DNNNVV. Câu hỏi nghiên cứu Các câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm: - Cơ sở lý luận nào được sử dụng để phân tích và đánh giá mức độ CĐS trong DNNVV? - Quá trình CĐS trong các DNNVV bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nào? Và mức độ ảnh hưởng ra sao? - Thực trạng CĐS trong DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện như thế nào? Các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế là gì? - Những giải pháp chính sách nào có thể được đề xuất để thúc đẩy CĐS trong DNNVV tại Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng? 4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tập trung vào đo lường đánh giá mức độ CĐS và các nhân tố ảnh hưởng trong DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác lập cụ thể như sau: - Về nội dung: thực trạng mức độ CĐS trong DNNVV và vai trò quản lý của nhà nước, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CĐS trong DNNVV. - Về không gian: các DNNVV đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Về thời gian: trong giai đoạn 2015 – 2021.
Phương pháp nghiên cứu 5.