CHƯƠNG 1. HỆ THỐNG THÔNG TIN SỐ TẠI TRUNG TÂM VIỄN THÔNG DUY TIÊN, VNPT HÀ NAM Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã và đang tác động mạnh mẽ đến toàn cầu, buộc Chính phủ, doanh nghiệp các nước trên thế giới phải đối mặt với những thách thức lớn, đòi hỏi những sự thay đổi để phù hợp trước sự tiến bộ của công nghệ, khoa học kỹ thuật. Những thay đổi to lớn về mặt năng suất lao động trải nghiệm của người dùng và các mô hình kinh doanh mới đang được hình thành cho thấy vai trò và tác động to lớn trong cuộc sống xã hội hiện nay của chuyển đổi số, nó tác động đến mọi ngành nghề, như: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ kinh doanh, y học, truyền thông… Chuyển đổi số cũng đang làm thay đổi cuộc sống hàng ngày của người dân, nhất là trong tình hình dịch Covid-19 bùng nổ, cán bộ làm việc tại nhà, sinh viên, học sinh học online, các tổ chức hội họp đều trực tuyến nhằm tránh tiếp xúc, đảm bảo giãn cách cộng đồng, song vẫn phải đảm bảo được hiệu quả ở mức có thể tối đa. Việt nam là nước đang phát triển trong khu vực do đó Chuyển đổi số có thể coi là một cơ hội tốt để Việt nam có thể bắt kịp với các tiến bộ khoa học của thế giới một cách nhanh hơn để đưa đất nước ta phát triển một cách mạnh mẽ.
Chính vì thế mà chính Phủ Việt nam đã thể hiện quyết tâm thực hiện chuyển đổi số một cách mạnh mẽ bằng các chỉ tiêu cụ thể đó là Ngày 3/6/2020, Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến 2025, định hướng 2030, với 03 mục tiêu chính: Hướng tới Chính phủ số, đến năm 2025, nước ta có 100% cơ sở dữ liệu quốc gia được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc, Việt Nam thuộc nhóm 70 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử (EGDI); về Kinh tế số, Việt Nam hướng tới nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI), kinh tế số chiếm 20% GDP và năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; về Xã hội số, Việt Nam hướng đến mục tiêu trên 50% dân số có tài khoản thanh toán điện tử; phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh và nước ta thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI). VNPT đặt nhiệm vụ chuyển đổi số cho quốc gia, cho các bộ, ban ngành, chính phủ, doanh nghiệp và trong nội tại VNPT là một một vụ trọng tâm, then chốt trong giai đoạn này. Do đó VNPT triển khai các giải pháp chuyển đổi số luôn hướng tới các mục tiêu Chuyển đổi số nền kinh tế, Chuyển đổi số xã hội, Chuyển đổi số cơ quan nhà nước, Phát triển lực lượng lao động số. Muốn thực hiện tốt các nhiệm vụ trên thì trước mắt Luan van 8 VNPT phải thực hiện tốt Chuyển đổi số trong nội tại VNPT.
Để góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số của VNPT Hà Nam em chon giải pháp Số hóa và phân tích dữ liệu khách hàng trong khung chuyển đổi số tại Trung tâm viễn thông Duy Tiên – VNPT Hà Nam. Đây là một giải pháp quan trọng trong việc số hóa và chuyển đổi số của VNPT giúp cho việc chuyển đổi số của khách hàng được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác.Hệ thống thông tin số 1.Khái niệm Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và phân phối thông tin và dữ liệu và cung cấp một cơ chế phản hồi để đạt được một mục tiêu định trước. Các tổ chức có thể sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau. Trong việc quản trị nội bộ, hệ thống thông tin sẽ giúp đạt được sự thông hiểu nội bộ, thống nhất hành động, duy trì sức mạnh của tổ chức, đạt được lợi thế cạnh tranh.
Với bên ngoài, hệ thống thông tin giúp nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh, tạo đà cho sự phát triển. Vai trò của hệ thông thông tin Bất kỳ hệ thống thông tin cụ thể nhằm mục đích hỗ trợ hoạt động, quản lý và ra quyết định. Một hệ thống thông tin là công nghệ thông tin và truyền thông mà một tổ chức sử dụng và cũng là cách mọi người tương tác với công nghệ này để hỗ trợ các quy trình kinh doanh. Nhiều người có sự phân biệt rõ ràng giữa các hệ thống thông tin, hệ thống máy tính và quy trình kinh doanh.
Các hệ thống thông tin thường bao gồm một thành phần CNTT-TT nhưng không hoàn toàn liên quan đến CNTT, thay vào đó tập trung vào việc sử dụng cuối cùng của công nghệ thông tin. Hệ thống thông tin cũng khác với quy trình kinh doanh. Hệ thống thông tin giúp kiểm soát hiệu suất của các quy trình kinh doanh. Như vậy, hệ thống thông tin liên quan đến hệ thống dữ liệu một mặt và hệ thống hoạt động ở mặt khác và từ đó ta có thể xác định được mục đích của hệ thống thông tin như là một dạng hệ thống truyền thông nhằm truyền tải thông tin mà trong đó dữ liệu đại diện sẽ được xử lý như một dạng bộ nhớ chung của xã hội.
Một hệ thống thông tin bất kỳ nào đó cũng có thể được coi là ngôn ngữ bán chính thức hỗ trợ cho việc ra quyết định và hành động của con người, bởi nó cung cấp thông tin cho người dùng, đưa ra Luan van 9 những gợi ý, ý tưởng và việc này có thể ảnh hưởng đến quyết định của người dùng tới một số quyết định. Số hóa Số hóa là quá trình chuyển đổi thông tin trên giấy và các quy trình thủ công thành định dạng kỹ thuật số trong đó thông tin được tổ chức thành các bit và byte. Giống như quét một bức ảnh hoặc chuyển đổi một báo cáo giấy thành PDF. Dữ liệu không bị thay đổi - nó chỉ đơn giản được mã hóa theo định dạng kỹ thuật số.
Số hóa có tầm quan trọng rất lớn đối với việc xử lý, lưu trữ và truyền dữ liệu, bởi vì nó "cho phép thông tin của tất cả các loại ở mọi định dạng được thực hiện với cùng hiệu quả và cũng được xen kẽ". Mặc dù dữ liệu được lưu trữ ở dạng vật lý thường ổn định hơn, nhưng dữ liệu số có thể dễ dàng được chia sẻ và truy cập hơn và theo lý thuyết, có thể được truyền đi vô thời hạn, không bị mất mát qua thời gian và qua các lần sao chép dữ liệu, miễn là nó được chuyển sang các định dạng mới, ổn định. Số hóa trong một tổ chức cung cấp một lợi thế để thực hiện mọi thứ nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn. Số hóa có thể gặt hái lợi ích hiệu quả khi dữ liệu số hóa được sử dụng để tự động hóa các quy trình và cho phép khả năng truy cập tốt hơn - nhưng số hóa không tìm cách tối ưu hóa các quy trình hoặc dữ liệu.
Từ đó, nó có thể cung cấp lợi nhuận tốt hơn và có nhiều cơ hội sản xuất giá trị. Số hoá trong doanh nghiệp Người ta ước tính, năm 2007 94% các tài liệu trên thế giới đã được tích trữ theo dạng kỹ thuật số (chỉ có 3% 1993). Và khoảng năm 2002, nhân loại lần đầu tiên đã có thể tích trữ tài liệu dạng kỹ thuật số nhiều hơn các dạng thường khác. Hiện nay, quá trình số hóa trở thành một trong những xu hướng toàn cầu hiện nay, đặc biệt là sau cách mạng công nghiệp 4.
Vì vậy, đã có nhiều doanh nghiệp, tổ chức thực hiện quá trình số hóa nhằm giúp doanh nghiệp phát triển hơn, bắt kịp tiến độ phát triển của thế giới. Theo báo cáo năm 2016 của PricewaterhouseCoopers, 86% trong số 2000 doanh nghiệp từ 26 quốc gia được nghiên cứu kỳ vọng đạt được việc giảm kinh phí và tăng lợi nhuận nhờ nỗ lực chuyển đổi số trong vòng 5 năm. Là bước quan trọng cần có để thực hiện các bước tiếp theo của chuyển đổi số, việc các doanh nghiệp thực hiện số hóa là việc bắt buộc để họ thực hiện các bước tiếp theo trong quá trình chuyển đổi số trong tương lai. Quá trình số hóa có tầm quan trọng quyết định đối với việc xử lý, lưu trữ và truyền dữ liệu.
Không giống như dữ liệu vật lý, thường bị giảm chất lượng mỗi lần được Luan van 10 sao chép hoặc truyền đi. Còn đối với dữ liệu kỹ thuật số, về mặt lý thuyết, dữ liệu số có thể được truyền đi mà hoàn toàn không bị giảm chất lượng hay mất dữ liệu. Đây là lý do tại sao số hóa là một cách bảo quản thông tin trong một tổ chức hiện nay. Quá trình số hóa trong một tổ chức liên quan đến các chiến lược, phương pháp được sử dụng để quản lý, lưu trữ,và cung cấp nội dung - tài liệu liên quan đến tổ chức.
Vì vậy, số hóa là quá trình bắt buộc để doanh nghiệp có thể phát triển trong tương lai. Quá trình số hóa tích hợp các công nghệ kỹ thuật số vào chiến lược tổ chức và hoạt động. Nó giúp tổ chức tập trung vào các cơ hội tốt nhất để hợp nhất cả quy trình kỹ thuật số và vật lý. Quá trình này nhằm mục đích mở rộng sâu sắc lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận cho doanh nghiệp - tổ chức.
Trong môi trường ngày nay, khách hàng muốn trực tuyến tất cả các thông tin từ nhà cung cấp của họ. Họ muốn các nhà cung cấp của họ cho họ quyền truy cập tự động vào tất cả dữ liệu được cung cấp trước đó trong các bản sao. Các tổ chức truyền thống không thể đáp ứng những mong đợi này. Vì vậy, tổ chức truyền thống được yêu cầu áp dụng một cách lớn quy trình số hóa để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng về vấn đề này.
Tổ chức được yêu cầu tiến hành số hóa các quy trình kinh doanh. Giao diện dễ hiểu, sẵn sàng cho khách hàng truy cập, xử lý cá nhân, tính nhất quán toàn cầu và không có lỗi, v. là những tiện ích mà khách hàng ngày càng quen thuộc trong môi trường ngày nay. Để đáp ứng những kỳ vọng cao này của khách hàng, các tổ chức truyền thống được yêu cầu đẩy nhanh quá trình số hóa trong hoạt động kinh doanh của mình, cần phải phát triển việc tự động hóa trong quy trình hiện có.