CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về dịch vụ Hóa đơn điện tử 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Viễn thông - Công nghệ thông tin 1.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ trên thế giới hiện nay được phát triển phong phú theo nhiều ngành và loại khác nhau.
Trong số những nghiên cứu đã được công bố hiện nay, người ta cũng đưa ra những cách hiểu, hay các định nghĩa về dịch vụ, xuất phát từ điểm nhìn của mỗi tác giả. Chúng ta có thể nêu ra đây một vài định nghĩa tiêu biểu sau: Kotler và Armstrong định nghĩa “dịch vụ là một hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên khác về cơ bản là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ thứ gì. Sản xuất của nó có thể có hoặc có thể không gắn với một sản phẩm vật chất” [1]. William Stanton, “dịch vụ là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không nhất thiết phải gắn liền với việc bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ khác”.
Theo Hiệp hội Tiếp thị Hoa Kỳ (1960), “dịch vụ là là các hoạt động, lợi ích hoặc sự thỏa mãn được cung cấp để bán hoặc được cung cấp liên quan đến việc bán hàng hóa”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [7, tr256]: .” Philip Kotler (2003) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất [3, tr 522]” [2] Nguyễn Văn Thanh (2008) cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét 8 văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn [10, tr 1]”[3]. Các định nghĩa trên về dịch vụ đều đúng.
Sự khác nhau của các định nghĩa là do các tác giả khái quát dưới các góc độ khác nhau.2 Khái niệm dịch vụ Viễn thông - Công nghệ thông tin Theo Pháp lệnh Bưu chính - Viễn thông của Việt Nam ban hành năm 2002, dịch vụ viễn thông được định nghĩa là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Điểm kết cuối của mạng viễn thông là điểm đấu nối vật lý thuộc mạng viễn thông theo các tiêu chuẩn kỹ thuật để bảo đảm việc đấu nối thiết bị đầu cuối của người sử dụng dịch vụ vào mạng viễn thông. Viễn thông là một trong những lĩnh vực có công nghệ biến đổi nhanh nhất trên thế giới. Hiện nay, công nghệ viễn thông phát triển theo hướng hội tụ công nghệ viễn thông, vô tuyến, cùng với sự xuất hiện của các công nghệ đa phương tiện.
Vì vậy, cách phân loại dịch vụ viễn thông cần phải phù hợp với xu hướng trên. Cách phân loại dịch vụ viễn thông ở Việt Nam hiện nay đã được ghi trong Pháp lệnh Bưu chính - Viễn thông năm 2002. Theo đó, dịch vụ viễn thông bao gồm: Dịch vụ cơ bản: là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin; Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet; Dịch vụ kết nối Internet: là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế; Dịch vụ truy nhập Internet: là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet; Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông: là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng. Danh mục cụ thể các dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông - cơ quan QLNN về bưu chính, viễn thông quy định và công bố.3 Đặc điểm của dịch vụ Viễn thông– Công nghệ thông tin - Tính phi vật chất: Dịch vụ viễn thông, cũng giống các dịch vụ khác, có tính phi vật chất.
Để thực hiện được việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, ngành viễn thông phải sử dụng các công cụ vật chất như: tổng đài, các thiết bị đầu cuối (điện thoại, modem…). Tuy nhiên, bản chất dịch vụ viễn thông thì không nhìn thấy được. Đó là sự truyền đi của các thông tin được mã hoá mà mắt người không thể nhìn thấy. Quá trình tiêu thụ dịch vụ viễn thông cũng gắn liền với quá trình sản xuất hoặc trùng với quá trình sản xuất.
- Vượt qua giới hạn về không gian và thời gian: Với công nghệ viễn thông hiện nay, con người đã phóng được những vệ tinh viễn thông lên các quỹ đạo quanh trái đất. Các vệ tinh này có thể hoạt động 24/24 giờ. Vì vậy, bất cứ lúc nào, vệ tinh viễn thông cũng liên kết với các mạng lưới dưới mặt đất, bao phủ toàn cầu, ở mọi địa hình cao thấp khác nhau. Như vậy, giới hạn về không gian và thời gian cũng bị vượt qua.
- Có sự kết tinh tri thức cao của con người: Trong nền kinh tế hiện đại, ngành điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin là biểu tượng cho tri thức của loài người. Hầu hết các doanh nghiệp đều rất coi trọng nguồn nhân lực trình độ cao. Các tập đoàn kinh tế thường đầu tư rất lớn vào khâu nghiên cứu và phát triển (R&D). Và những sản phẩm tri thức trong ngành viễn thông đều là kết quả của quá trình nghiên cứu, sáng tạo không ngừng của con người.
Đội ngũ trí thức tạo ra những sản phẩm công nghệ mới, có giá trị cao. Do Luật Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được thực thi ở nhiều nước phát triển nên khách hàng phải mua các tài sản tri thức, công nghệ viễn thông với giá rất cao. Trong khi đó, chủ doanh nghiệp chỉ phải trả cho đội ngũ kỹ sư của họ một khoản tiền nhỏ hơn nhiều lần doanh thu. Vì vậy, khoản lợi nhuận doanh nghiệp thu được khá lớn.
Và kinh doanh công nghệ viễn thông là một lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao. - Những tiến bộ công nghệ của ngành viễn thông diễn ra nhanh chóng: Sự phát triển của ngành viễn thông gắn liền với những tiến bộ khoa học - công nghệ. Nửa đầu thế kỷ XX, các dịch vụ viễn thông chỉ dừng lại ở việc truyền thông tin 10 trong vùng phủ sóng hẹp, và hầu như chưa có các dịch vụ giá trị gia tăng. Vào nửa sau thế kỷ XX, thế giới được chứng kiến cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại hướng tới nền kinh tế tri thức.
Ngày nay, mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp đều quan tâm đầu tư phát triển nguồn tài sản quý nhất, đó là con người. Đội ngũ nhân lực trình độ cao không ngừng sáng tạo ra những phương pháp, những thiết bị mới nhằm mở rộng vùng phủ sóng, cải thiện chất lượng tín hiệu, nâng cao tốc độ đường truyền thông tin, đa dạng hoá các tiện ích cho người sử dụng. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tin học, điện tử và tự động hoá đã góp phần rút ngắn chu kỳ đời sống của sản phẩm nói chung, và trong ngành viễn thông thì những tiến bộ kỹ thuật xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn hơn nữa. Mỗi tháng, các tập đoàn viễn thông lớn trên thế giới đều giới thiệu với thị trường thêm nhiều sản phẩm mới: điện thoại, phần mềm tiện ích, thiết bị cải thiện tốc độ truyền tin, thiết bị bảo mật thông tin.
Hiện nay, công nghệ thông tin và truyền thông tiếp tục phát triển theo hướng hội tụ. Trên thế giới, sự hội tụ (convergence) giữa viễn thông, máy tính (Internet) và phát thanh, truyền hình (broadcasting) đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Trong viễn thông còn xảy ra sự hội tụ giữa cố định và di động, giữa thoại và dữ liệu. Hội tụ nói chung bao gồm hội tụ về mạng lưới hạ tầng (infrastructure) và hội tụ về dịch vụ (service).
Khái quát về dịch vụ Hóa đơn điện tử 1.1 Giới thiệu về hóa đơn điện tử Hóa đơn điện tử: Khái niệm hóa đơn điện tử: là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử. Ngoài cách định nghĩa ở trên, hóa đơn điện tử còn được định nghĩa trong các Thông tư và Nghị định như sau: Theo Điều 3, Nghị định 119 về hóa đơn điện tử: Hóa đơn điện tử là dạng hóa đơn được biểu thị dưới dữ liệu điện tử do các tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ lập, ghi lại thông tin bán hàng, cung cấp dịch vụ, ký số, ký điện tử theo quy định bằng phương tiện điện tử, bao gồm cả trường hợp hóa đơn được lập từ máy 11 tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử tới cơ quan thuế. Hoá đơn điện tử được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Hóa đơn điện tử được cung cấp bởi hệ thống xác thực hoá đơn của Tổng cục Thuế dựa trên các thông tin hoá đơn của doanh nghiệp.
Hoá đơn điện tử có giá trị về mặt pháp lý như hoá đơn giấy và được pháp luật công nhận. Đây là hình thức hóa đơn hiện đại với nhiều ưu điểm nổi bật và mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp khi sử dụng. Lợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tử so với hóa đơn giấy: Tiết kiệm đến 90% chi phí dành cho hóa đơn hàng năm; Không cần phải đầu tư quá nhiều nhân lực và thời gian để phục vụ cho công việc in ấn, phát hành hóa đơn đỏ. Bởi vậy, doanh nghiệp sẽ có thể tiết kiệm được khoảng 90% chi phí dành cho hóa đơn so với trước đây.