Chương 1: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm trong bối cảnh chuyển đổi số. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông ngiệp – Chi nhánh Thanh Hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp - Chi nhánh Thanh Hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 1.
Tổng quan về năng lực cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi số 1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất rộng rãi hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được đề cập tới trong sách báo, tạp chí chuyên ngành, diễn đàn kinh tế trên toàn thế giới cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng và là một khái niệm được các học giả của các trường phái kinh tế khác nhau rất quan tâm nghiên cứu. Sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh” phù hợp với nhiều mặt của vấn đề đánh giá, nghiên cứu, cụ thể như sau: Các nhà khoa học của Việt Nam khi đề cập tới thuật ngữ cạnh tranh thì cho rằng: cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ (mua và bán) và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Nói khác đi, mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của chủ thể kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp giá các yếu tố "đầu vào" của chu trình sản xuất - kinh doanh và nâng cao giá "đầu ra" sao cho mức chi phí thấp nhất, giành được mức lợi nhuận cao nhất. Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Trên thực tế, cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất mong muốn cung cấp hàng hóa dịch vụ sản phẩm của mình với giá bán cao hơn, còn người tiêu dùng thì lại mong muốn sử dụng hàng hóa dịch vụ sản phẩm với giá thành thấp hơn); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ sản phẩm của doanh nghiệp mình. Hay như Michael Porter đã từng đề cập Cạnh tranh là việc các doanh nghiệp cố gắng giành lấy thị phần lớn nhất có thể về mình, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có và do vậy 6 quá trình cạnh tranh sẽ làm bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi đáng kể. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một điều tất yếu và là điều kiện, là yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của các doanh nghiệp, thị trường và xã hội nói chung. Như vậy có thể nói cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất, kinh doanh, là cơ chế vận động của thị trường, của kinh tế thị trường.
Sản xuất hàng hoá, kinh doanh sản phẩm càng phát triển thì hàng hoá, sản phẩm cung cấp ra càng nhiều; việc thị trường phát triển làm cho số lượng nhà cung ứng càng nhiều thì cạnh tranh càng gay gắt, khốc liệt hơn và cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, không đủ nguồn lực để tiếp tục cuộc cạnh tranh trên thị thường.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sống còn đối với sự tồn tại, phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và nhất là thời đại mà Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, vì bản chất của cạnh tranh trong cơ chế thị trường và hội nhập là quá trình doanh nghiệp trong nước phải trực tiếp cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài có trình độ văn hóa, khoa học công nghệ, nền luật pháp, tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm, … cao hơn rất nhiều, và là mục tiêu để Việt Nam cũng như các Doanh nghiệp trong nước hướng tới. Bởi vậy, hiểu khái niệm “năng lực cạnh tranh” góp phần giúp cho các doanh nghiệp định hướng nghiên cứu, phát triển năng lực cạnh tranh của mình rõ ràng, nghiêm túc, thực chất hơn trong nền kinh tế toàn cầu hóa, trong một thời đại “thế giới phẳng”. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, để được như vậy doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực nội tại, nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu 7 chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường.
Michael Porter từng cho rằng năng lực cạnh tranh phụ thuộc rất lớn vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để có thể tạo ra các sản phẩm dịch vụ có giá thành thấp và sự độc đáo, dị biệt của sản phẩm. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được định nghĩa khái quát là khả năng doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh, phát triển, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thông qua một số chỉ tiêu như năng suất, chất lượng, công nghệ, sự khác biệt về hàng hoá dịch vụ được cung cấp, giá trị tăng thêm, chi phí sản xuất là khả năng của doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt mục tiêu quan trọng nhất: lợi nhuận”. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà WEF đưa ra có thể nói đã tóm lược được nội dung của hầu hết các định nghĩa về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đưa ra trên thế giới hiện nay. Từ các điều trên, có thể nói năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng các lợi thế bên trong sẵn có và kết hợp với các lợi thế bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ hấp dẫn khách hàng, tăng sức mua, nhu cầu, tạo ra nhu cầu về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến thị phần, vị trí, thương hiệu so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp “Trong một nền kinh tế mở cửa toàn cầu hóa, cơ chế thị trường như hiện nay, nâng cao sức cạnh tranh là một tất yếu mang tính khách quan lẫn chủ quan mà các doanh nghiệp cần phải hiện thực hóa với tốc độ nhanh nhất có thể.
Trong các năm vừa qua, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, công nghệ số, yêu cầu của người tiêu dùng thông minh ngày càng khắt khe hơn, họ luôn có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp hơn cả về nhu cầu, giá cả hợp lý, cũng như tìm kiếm các doanh nghiệp có hệ thống chăm sóc khách hàng sau bán hàng, hậu mãi tốt hơn, lâu dài hơn, uy tín hơn. Điều đó buộc doanh nghiệp luôn phải nghiên cứu, tìm mọi cách không chỉ để cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, luôn phải làm mới bản thân, đổi mới công nghệ, song hành với sự phát triển của thị trường thế giới… 8 Mặt khác xu hướng tự do mở cửa của nền kinh tế, toàn cầu hóa, diễn ra ngày một nhanh, thì nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của bất cứ doanh nghiệp nào khi mà chính sách mở rộng hợp tác kinh tế, giao thông, thông thương của Nhà nước, chính phủ đang chuyển biến rất mạnh mẽ; hàng rào thuế quan dần xoá bỏ, các công ty đa/ xuyên quốc gia hùng mạnh về tài chính, bề dày kinh nghiệm, những công nghệ hàng đầu thế giới sẽ tham gia vào thị trường; các doanh nghiệp bản địa nhạy bén, năng động cùng sự gia nhập ồ ạt của hàng ngàn doanh nghiệp mới sẽ là khó khăn hơn đối với mỗi doanh nghiệp khi chiếm lĩnh, giành giật thị phần và khách hàng. “Thời gian qua khi Việt Nam tham gia sâu rộng, là một mắt xích vận hành của nền kinh tế thế giới, việc bảo hộ của nhà nước đã phần nào thu nhỏ lại rất nhiều, ngay cả các doanh nghiệp, tập đoàn tài chính của nhà nước buộc phải làm quen với từ “Cổ phần hóa”, dần quên từ “độc quyền” cũng như phải thay đổi chính mình để thích nghi với môi trường kinh doanh mới của cơ chế thị trường, cơ chế cạnh tranh. ” Tồn tại, phát triển và đứng vững trên thị trường, khẳng định vị thế và thực hiện các mục tiêu khác luôn là mục tiêu hướng tới của bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường và đều phải chấp nhận cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa.
Internet, khoa học kỹ thuật và công nghệ số làm cho thế giới đang “phẳng” hơn, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều, không chỉ còn “ăn chắc mặc bền” mà giờ đây phải là “ăn ngon mặc đẹp”, giá cả hợp lý.