Chương 1: Những van dé cơ bản về phát triển thị trường của ngân hàng thương mại Chương 2 : Thực trạng hoạt động phát triển thị trường của ngân hàng SeABank - Hội sở chính Chương 3: Phương hướng và giải pháp day mạnh phát triển thị trường của ngân hàng SeABank — Hội sở chính. CHUONG 1 NHUNG VAN DE CO BAN VE PHAT TRIEN THI TRUONG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát về thị trường của ngân hàng thương mai 1. Khai niệm thị trường Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan, có sự gắn bó chặt chẽ quá trình sản xuất.
Ở đâu và khi nào có sản xuất hàng hóa thì ở đó có thị trường. Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, khái niệm thị trường cũng có nhiều thay đổi, ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Ban đầu thị trường chỉ có quan niệm đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động trao đôi, mua bán hàng hóa của các chủ thê kinh tế, có tính không gian, thời gian, sự xuất hiện của người mua và người bán va đối tượng được đem ra trao đôi. Khi sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, các sản phẩm trở nên đa dạng và các hình thức trao đổi cũng phức tạp hơn.
Vì thế, cách hiểu thị trường như cũ không thé phản ánh đầy đủ bản chat của thi trường nên cần đòi hỏi một cách hiểu mới hiện đại, chỉ tiết và phù hợp hơn. Theo Philip Kotler, trong các tác phẩm về Marketing của mình, quan niệm: “Thi trường bao gom tat cả những khách hàng tiềm ẩn cùng một nhu cau hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi dé thỏa mãn nhu câu hay mong muốn đó”. O đây, Philip Kotler đã phân chia người bán thành ngành sản xuất còn người mua thì họp thành thị trường. Ở Việt Nam, theo định nghĩa về thị trường đối với DNTM trong cuốn sách Quản trị doanh nghiệp thương mại (2005) thì “7h; rường được mô tả là một hay nhiều nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể nào đó mà doanh nghiệp với tiềm năng của mình có thể mua được hàng hóa dịch vụ dé thỏa mãn nhu câu trên của khách hàng”.
Dù quan niệm thị trường theo góc độ nào thì thị trường vẫn luôn do những yêu tố chính sau câu thành nên : Thứ nhất, cầu về hàng hóa dịch vụ: là những khách hàng có tiềm năng tiêu thụ, có nhu cầu cụ thê về hàng hóa, dịch vụ trong một thời gian nhất định và chưa được thỏa mãn nhu cầu đó. Thứ hai, cung về hàng hóa, dịch vụ: do các cá nhân hay doanh nghiệp là người bán trong nên kinh tê quôc dân tạo nên. Đây là một nhân tô quan trọng và làm đối trọng với cầu, chính sự tác động qua lại với nhau giữa cung và cầu về hàng hóa và dịch vụ tạo nên quy luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Thứ ba, giá cả : một thành phần không thé thiếu được tham gia thị trường đó chính là các sản phẩm cụ thể, đối tượng được đem ra để mua bán, trao đồi.
Mỗi sản phẩm lại được quyết định bởi giá cả khi chúng được đem ra thị trường. Sản pham tốt, mang lại nhiều giá trị cho con người, được yêu thích thì có giá cao, ngược lại thì có giá thấp. Cuối cùng, sự cạnh tranh: là một yếu tô tất yêu xuất hiện trên thị trường khi có nhiều người mua, người bán và nhiều sản phẩm, dịch vụ. Cạnh tranh là bộ máy để điều chỉnh thị trường, là yếu tổ kích thích sự đa dạng, nâng cao chat lượng của sản phẩm cho phù hợp với thị trường.
Tóm lại thị trường bao gồm cung, cầu, giá cả và sự cạnh tranh. Vai trò của thị trường Đối với nên kinh tế quốc dân Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường thì thị trường có vị trí trung tâm. Nó vừa là mục tiêu, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh. Thị trường cũng là nơi chuyên tải các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trên thị trường, người mua, người bán, người trung gian gặp nhau dé trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Quá trình sản xuất xã hội gồm các khâu: sản xuất, phân phối, trao đối, tiêu dùng thì thị trường chính là khâu trao đồi. Đó là khâu trung gian cần thiết và quan trọng, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì thế, thị trường có tác động nhiều mặt đến sản xuất và tiêu dùng trong xã hội, cụ thể như sau: - Đảm bảo điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục và đảm bảo cho sản phẩm luôn sẵn sàng phục vụ người tiêu dùng, phù hợp với thị hiếu và sự tự do lựa chọn một cách đầy đủ, thuận lợi với dịch vụ văn minh, hiện đại.
- Thúc đây nhu cầu, gợi mở nhu cầu và đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm mới. Thị trường kích thích sản xuất ra những sản pham chất lượng cao và gợi mở nhu cầu hướng tới những sản phẩm chất lượng cao này. - Phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, hiện đại giúp giải phóng con người khỏi những công việc thường ngày nặng nề và tốn thời gian làm cho con người có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn. - Thị trường hàng hóa ồn định có tác dụng én định sản xuất, ôn định đời sông của nhân dân.
Đối với doanh nghiệp Thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh doanh vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều hướng vào thị trường từ tổ chức bộ máy, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ đến các hoạt động marketing đều nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường. - Thị trường điều hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ vào kết quả điều tra, thu nhập thông tin để quyết định nên sản xuất cái gì? Cho ai? Ở đâu? Bằng phương thức kinh doanh nào? - Doanh nghiệp chỉ tồn tại khi sản phẩm của mình được thị trường thừa nhận, mang lại giá trị cho xã hội, khi đó thị trường giúp doanh nghiệp thu hồi vốn bỏ ra, bù dap các chi phí và có lãi dé mở rộng tái sản xuất kinh doanh.
- Thị trường là nơi để doanh nghiệp đánh giá, kiểm nghiệm chủ trương chính sách của mình thông qua doanh thu bán hàng, tốc độ phát triển thị trường, phản ứng của khách hàng,. từ đó dé doanh nghiệp đưa ra những điều chỉnh phù hợp. - Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất yếu, thị trường được chia sẻ cho nhiều doanh nghiệp, doanh nghiệp nào giữ vững và phát triển được thị trường thị doanh nghiệp đó sẽ ton tại và phát triển , ngược lại sẽ dẫn đến đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh và phá sản. Bởi vậy mỗi doanh nghiệp luôn luôn phải phát trién thị trường.
Ngân hàng thương mại và những đặc trưng cơ bản về thị trường của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) đã ra đời và phát triển hàng trăm năm, găn liền với sự phát triển của sản xuất kinh doanh và nền kinh tế. Ngày nay hầu như bat kỳ công dân của một đất nước phát triển nào cũng đều có quan hệ giao dịch với ít nhất một NHTM nhất định nào đó. NHTM trở thành một định chế tài chính quen thuộc và gần gũi đối với đời sống kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển thì ngân hàng cũng như hoạt động dịch vụ của ngân hàng càng tiếp cận đến từng ngóc ngách của nền kinh tế và đời sống con người.
Mọi công dân đều chịu tác động từ các hoạt động của ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịnh vụ ngân hàng. Theo Nghị định số 49/2000/ND — CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại năm 2000 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng duoc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hang và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phân thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước” Còn theo luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội về luật các tổ chức tín dụng thì NHTM được định nghĩa: “Ngân hàng thương mai là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Có thê hiểu ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Mặc dù có những cách hiểu khác nhau song nhìn chung thì NHTM có những đặc trưng sau: - Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến tiền tệ. - Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp vay mượn, huy động tiền tệ từ các chủ thê đang nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất dé phân biệt lĩnh vực kinh doanh NHTM với các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các NHTM ngày càng phải hoạt động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của NHTM cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của ngân hàng còn bao gồm các dịch vụ khác như : dịch vụ về tài chính, về thông tin, kế toán. Với lĩnh vực kinh doanh đặc thù của mình thì NHTM cũng có những đặc trưng nhất định về thị trường: Thứ nhất, đặc trưng về cầu: Cầu của NHTM tất da dạng và phong phú nhưng được phân chia thành hai nhóm chính đó là KHCN và KHDN. Đó là những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngân hàng như vay vốn để sản xuất kinh doanh, vay vốn tiêu dùng cá nhân, gửi tiền tiết kiệm,.
Nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ ngân hàng là không đồng nhất và có nhiều biến động chính về thế ngân hàng luôn đa dạng hóa sản phẩm và dich vụ của mình dé phù hợp với khách hàng. Thứ hai, đặc thù về sản phẩm: NHTM là một tô chức kinh doanh tiền tệ, một loại hàng hoá đặc biệt.