chương 1 của luận văn, tác giả đã giới thiệu đề tài nghiên cứu, đưa ra lý do chọn đề tài, mục đích, câu hỏi nghiên cứu trong đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu như: thu thập thông tin; xử lý, phân tích thông tin; nghiên cứu tình huống; lấy ý kiến chuyên gia, và nêu ra ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của luận văn. Qua đó, tác giả lấy làm tiền đề cho đề tài nghiên cứu: “Xây dựng Báo cáo bộ phận phục vụ kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động tại Công ty TNHH Thương mại Nam Cường”. 9 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Quy định về báo cáo bộ phận trong chuẩn mực là một trong những cơ sở để thiết lập nên báo cáo bộ phận trong doanh nghiệp phục vụ cho nhà quản trị. Báo cáo bộ phận phục vụ cho các đối tượng bên ngoài được quy định theo IFRS 8, VAS 28. Đây cũng là cơ sở cho nhà quản trị ra quyết định. Tuy nhiên, báo cáo bộ phận phục vụ cho nhà quản trị sẽ linh hoạt, tùy vào yêu cầu của nhà quản trị và không bị chi phối bởi quy định phạm vi bộ phận như trong chuẩn mực.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về báo cáo bộ phận và việc lập báo cáo bộ phận trong các doanh nghiệp thương mại đang trở thành nhóm đề tài thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu tham gia ở cả trên thế giới và ở cả Việt Nam. Luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào việc lập Báo cáo bộ phận phục vụ kiểm soát và đánh giá hiệu quả tại công ty TNHH Thương mại Nam Cường thông qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Cùng với sự phát triển không ngừng, mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh, hoạt động, các yêu cầu về thông tin kế toán cũng thay đổi theo. Với các đặc thù này, nhà đầu tư nhận ra rằng họ không thể đánh giá đầy đủ tình hình kinh doanh, hoạt động của DN nữa, các Báo cáo tài chính thông thường không thể giúp họ đánh giá chi tiết được từng loại hình kinh doanh, hoạt động.
Do vậy, quy định về khuyến khích công bố thông tin của 10 báo cáo bộ phận lần đầu tiên đã được ban hành bởi Ban Nguyên tắc kế toán thuộc Viện Kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA) vào tháng 9 năm 1967. Dựa trên văn bản này, vào năm 1969, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ yêu cầu các công ty phải trình bày thông tin hoạt động kinh doanh trong các giấy tờ niêm yết của doanh nghiệp. Năm 1970, Ủy ban này mở rộng việc trình bày các thông tin trong biểu mẫu báo cáo thường niên 10K dành cho các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán. Tháng 12 năm 1974, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành một bảng dự thảo của chuẩn mực về báo cáo tài chính hợp nhất, tất cả các công ty nộp báo cáo cho SEC đều phải trình bày các thông tin này trong báo cáo thường niên.
Tiếp đó, chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ SFAS 14 về “Báo cáo tài chính cho bộ phận kinh doanh” được Ủy ban chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ ban hành lần đầu vào năm 1976 đã mở rộng yêu cầu trình bày đối với các thông tin bộ phận. Đây là chuẩn mực kế toán đầu tiên liên quan đến báo cáo về thông tin bộ phận, yêu cầu các công ty đa ngành phải công bố thông tin về báo cáo bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý. Sau đó, quy định này đã được thay thế bởi SFAS 131 vào năm 1997 với những quy định cơ bản về phương pháp xác định báo cáo bộ phận (lĩnh vực hoạt động), khoản mục BCTC riêng cho từng bộ phận và thông tin tài chính cho mỗi bộ phận. Tháng 3 năm 1980, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành ED E15 về “ báo cáo thông tin tài chính bộ phận”.
Đây là bảng dự thảo dựa trên SFAS 14 của Hoa Kỳ, là phương pháp tiếp cận rủi ro có được. Việc đưa ra các quyết định dựa trên cơ sở chính là sự phân chia theo sản phẩm, dịch vụ hoặc theo khu vực địa lý. Đến tháng 8 năm 1981, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế về báo cáo bộ phận IAS 14 11 Ngày 19 tháng 1 năm 2006, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã ban hành dự thảo IFRS 8 về “Bộ phận hoạt động” thay thế cho IAS 14. Sự khác biệt giữa IAS 14 và bản dự thảo này là phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích theo hướng quản trị.
Đồng thời, nó yêu cầu doanh nghiệp phải báo cáo thông tin về doanh thu từ các lĩnh vực kinh doanh, khu vực địa lý, tài sản và những khách hàng lớn mà công ty đang nắm giữ. Ngày 30 tháng 11 năm 2006, IFRS 8 chính thức được ban hành thay thế Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 14 và có nội dung tương đối đồng nhất với SFAS 131 của Hoa Kỳ. Chuẩn mực này có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2009, là cơ sở nền tảng cho các quốc gia ban hành chuẩn mực riêng cho mình về báo cáo bộ phận. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế đó, Việt Nam đã ban hành Chuẩn mực kế toán số 28 về báo cáo bộ phận – VAS 28 vào năm 2005 dựa trên cơ sở IAS 14 làm nền tảng và chưa có những cập nhật theo IFRS 8.
Với việc quy định nguyên tắc và phương pháp thiết lập các thông tin tài chính theo bộ phận: lĩnh vực kinh doanh, khu vực địa lý, VAS 28 đã đánh dấu nỗ lực quan trọng của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá rủi ro, lợi ích kinh tế và có những nhận xét, cái nhìn toàn diện hơn về doanh nghiệp. Mặc dù ra đời từ năm 2005 nhưng việc áp dụng VAS 28 trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Ngày 15 tháng 01 năm 2010, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 09/2010/TT-BTC của bộ tài chính “Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán” quy định các công ty đại chúng, DN có chứng khoán trao đổi công khai, DN đang phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán phải có báo cáo bộ phận theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 trong Thuyết minh báo cáo tài chính. Tuy nhiên, đến ngày 05 tháng 04 năm 2012, Bộ tài chính ra Thông tư số 52/2012/TT- 12 BTC “Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán”, Ủy ban chứng khoán yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải công bố thông tin về báo cáo bộ phận trong thuyết minh báo cáo tài chính năm 2011 hoặc giải trình lý do không có báo cáo bộ phận thì các doanh nghiệp đó mới thực sự chú ý đến nội dung này.
Ngoài ra, các doanh nghiệp không trao đổi công khai, không đang phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán có thể không lập báo cáo bộ phận theo mẫu quy định trong VAS 28. Các doanh nghiệp này có thể tùy theo yêu cầu, nhu cầu, mong muốn của nhà quản trị để lập báo cáo bộ phận riêng phù hợp với đặc thù kinh doanh theo lĩnh vực, khu vực địa lý cho mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về báo cáo bộ phận trên thế giới có rất nhiều tác giả quan tâm. Như Ijiri (1995) đã đưa ra quan điểm: “Báo cáo bộ phận là các số liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con, hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty”.
Đối tượng sử dụng thông qua báo cáo bộ phận sẽ tìm hiểu được những thông tin chi tiết, cắt lớp, toàn diện hơn. Tất cả các công ty niêm yết phải công bố lợi nhuận, chi phí bộ phận và các thông tin liên quan như doanh thu nội bộ, doanh thu bên ngoài, các khoản mục không dùng tiền mặt, thu nhập và chi phí,. Cùng với quan điểm đó, theo những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) lại cho rằng: “Báo cáo bộ phận là báo cáo của các bộ phận hoạt động của một công ty trong việc trình bày kèm theo báo cáo tài chính của nó”. Báo cáo bộ phận cần thiết cho các công ty đại chúng, trao đổi công khai, phát hành chứng khoán, không cần thiết cho các công ty tư nhân.
Báo cáo bộ phận thiết kế để cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, chủ nợ liên quan đến kết quả tài chính của công ty. Họ có thể căn cứ vào thông tin bộ phận để đưa ra những nhận định, quyết định liên quan đến công ty. Ngoài ra, việc xác định 13 các thông tin này phục vụ đánh giá kết quả hoạt động và phân bổ nguồn lực cho hợp lý. Trong khi đó, các nghiên cứu khác đa phần nghiên cứu về mức độ tuân thủ và các yếu tố ảnh hưởng của chúng đến việc trình bày báo cáo bộ phận như: Pedro Nuno Pardal and Ana Isabel Morais - “Segment Reporting Under IFRS8 – Evidence From Spanish Listed Firms” (2010).
Thông qua việc thu thập báo cáo thường niên năm 2009 của 150 công ty niêm yết tại Tây Ban Nha. Nghiên cứu nhằm mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày báo cáo bộ phận và khảo sát mức độ tuân thủ việc trình bày báo cáo bộ phận theo IFRS 8 của các công ty niêm yết này. Kết quả nghiên cứu đã cho rằng 79% các công ty niêm yết tại Tây Ban Nha tuân thủ việc trình bày BCBP theo lĩnh vực kinh doanh. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ là 7.6% các công ty không trình bày báo cáo bộ phận do các công ty này chỉ có duy nhất một bộ phận.
Nghiên cứu kết luận rằng, quy mô doanh nghiệp càng lớn càng trình bày nhiều thông tin báo cáo bộ phận hơn, khả năng sinh lợi càng cao mức độ trình bày báo cáo bộ phận càng thấp. Samuel Jebaraj Benjamin, Saravanan Muthaiyah, M. Srikamaladevi Marathamuthu, Uthiyakumar Murugaiah - “A Study of Segment Reporting Practices: A Malaysian Perspective” (2010). Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để khảo sát một số công ty lớn trong 5 lĩnh vực kinh doanh năm 2007 và 2008 tại Malaysia gồm: Điện thoại viễn thông, nước giải khát, truyền thông, in ấn, truyền thông điện tử và tiện ích xã hội.