LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, những biến động của thị trường, kinh tế, chính trị trong và ngoài nước luôn mang lại những cơ hội nhưng cũng mang lại rủi ro, thách thức cho doanh nghiệp. Để đi đến những quyết định đúng đắn trong quá trình sản xuất kinh doanh thì nhu cầu về vốn cho từng doanh nghiệp càng trở nên quan trọng và bức xúc hơn vì các doanh nghiệp phải đối mặt trực tiếp với sự biến động của thị trường, cùng với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước, các mặt hàng nước ngoài nên đòi hỏi phải sử dụng vốn sao cho hợp lý nhằm mang lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng thêm sức cạnh tranh sản phẩm của mình mà lại tiết kiệm được tối đa chi phí. Vì vậy, vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng, là sự sống còn của các doanh nghiệp.
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng trong phân tích hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đánh giá trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Đồng thời trên cơ sở đó cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng quan tâm như các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng…nhận biết tình hình tài chính thực tế để có quyết định đầu tư hiệu quả. Làm tốt được điều đó không chỉ đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tăng giá trị của các cổ đông mà Công ty còn ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường đang có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các thương hiệu bia hiện nay. Từ những nhu cầu thực tế trên và nhận thức được yêu cầu đòi hỏi sau thời gian thực tập tốt nghiệp tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn – cùng sự giúp đỡ của cán bộ công nhân viên trong Công ty, em chọn đề tài “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương” để làm khóa luận tốt nghiệp, với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty từ đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương trong thời gian tới.
Mục tiêu của đề tài a. Mục tiêu chung: Tiến hành phân tích thực trạng sử dụng vốn tại CTCP Bia Hà Nội, Hải Dương từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Công ty. Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong CTCP. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương.
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào hiệu quả sử dụng vốn tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương. Phạm vi nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu: Tình hình sử dụng vốn hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 2016, 2017, 2018.
Không gian: Tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương. Phƣơng pháp nghiên cứu a. Phương pháp duy vật biện chứng Phương pháp này xem xét sự vận động của các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ chặt chẽ với các sự vật hiện tượng khác và sự vận động của các sự vật hiện tượng qua các thời kỳ khác nhau b. Phương pháp thu thập dữ liệu nghiên cứu với dữ liệu thứ cấp Các số liệu về tình hình sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương.
Một số tài liệu liên quan được thu tập từ các báo, tạp chí, internet. Phương pháp xử lý số liệu 2 Luan van Phương pháp so sánh: Đối với dữ liệu thứ cấp thu thập tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương, tôi sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và tương đối để thấy rõ sự biến động về tình hình sử dụng vốn tại CTCP Bia Hà Nội – Hải Dương qua 3 năm. Phương pháp thống kê và phân tích thống kê: Phương pháp thống kê là việc sử dụng các số liệu thống kê trong một thời gian dài nhằm đảm bảo tính ổn định, lâu dài, độ tin cậy của số liệu thông tin. Phương pháp phân tích thống kê là phương pháp quan trọng, luôn luôn sử dụng nhằm phân tích tổng hợp số liệu, thông tin có liên quan nhằm khái quát hóa, mô hình hóa các yếu tố nghiên cứu.
Kết cấu của khóa luận Nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương. 3 Luan van CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong bất kỳ lĩnh vực nào đều gắn liền với vốn, không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanhĐể tiến hành sản xuất kinh doanh. Như vậy, vốn là yếu tố tiên quyết của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trước tiên, bao gồm có vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.
Nó đóng vai trò quyết định cho việc ra đời, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vậy vốn doanh nghiệp là gì? Đứng trên mỗi góc độ và quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn. Theo quan điểm của Karl Marx, ông cho rằng: “Vốn chính là tư bản, không phải là một vật, là tư liệu sản xuất, nó có giá trị tạm thời trong lịch sử. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê” (Giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin; Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2009, tr.
Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn, tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế mà Marx quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Còn với quan điểm của Paul.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển đã kế thừa các quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố của đầu vào sản xuất thành ba bộ phận là Đất đai, Lao động và Vốn. Theo ông, vốn là các hàng hoá sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ… và vốn không chỉ 4 Luan van tồn tại dưới hình thái bằng tiền. Trong quan niệm về vốn của Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp (Giáo trình “Lịch sử các học thuyết Kinh tế”; Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – 2010) Trong cuốn “Kinh tế học” của David Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa về vốn: “Vốn là một loại hàng hóa nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng… Đất đai không được coi là vốn”. (Giáo trình “Kinh tế học”; David Begg; Nhà xuất bản Thống kê – 2008) Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là điều kiện tiên quyết trong nền kinh tế, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Quá trình tham gia của vốn xuất hiện xuyên suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng. Vì vậy, vốn biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau như bằng tiền, hàng hóa, giá trị tài sản của doanh nghiệp. Tất cả được huy động, đưa vào sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Đặc điểm của vốn Vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp (nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất xám, thông tin…).
Thông qua việc quản lý vốn hiệu quả, các nhà quản trị sẽ nâng cao được giá trị của doanh nghiệp qua các thời kì. Khi đã có đủ một lượng nhất định đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn sẽ không dừng lại ở lượng ban đầu, vốn luôn vận động để sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn luôn vận động biến đổi theo một vòng tuần hoàn sao cho giá trị lúc kết thúc luôn lớn hơn giá trị của thời điểm khởi đầu, vốn từ trạng thái ban đầu đến khi kết thúc vẫn là hình thái tiền tệ, vì thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền. 5 Luan van Trong quá trình vận động, vốn không tách rời chủ sở hữu, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định.
Để mỗi đồng vốn bỏ ra được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả thì cần xác định được chủ sở hữu rõ ràng với những quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà người chủ sở hữu đối với đồng vốn mình bỏ ra. Cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền khác nhau và tùy theo hình thức đầu tư. Người sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định; giá của vốn (lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách rời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt.