ĐẶT VẤN ĐỀ: Ngành xây dựng từ lâu đã phải đối mặt với tình trạng chậm thanh toán và không thanh toán. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng thanh toán tại các dự án xây dựng hiện nay, ví như chủ đầu tư không còn khả năng thanh toán hoặc không sẵn lòng thanh toán, hoặc đang trong quá trình tranh chấp giữa các bên tham gia. Việc này dẫn đến hệ quả nghiêm trọng và nhiều ảnh hưởng đến dự án, bao gồm cả phát sinh chi phí, kéo dài tiến độ thực hiện dự án, dự án không thể về đích, dòng tiền khó khăn hoặc thậm chí là đánh mất sự tín nhiệm. Khi đó, các dự án xây dựng được thực hiện dựa trên các hợp đồng với các điều khoản và thỏa thuận giữa các bên tham gia, điều này trực và gián tiếp dẫn đến sự thành công của dự án.
Các điều khoản thanh toán trong hợp đồng cũng đồng thời là quyền lợi và nghĩa vụ ràng buộc giữa các bên, nó cho phép thực hiện công việc, chuyển khoản thanh toán, theo dõi các chỉ số hiệu suất dự án, và tạo điều kiện hợp tác giữa các bên tham gia với bất kì vai trò gì trong dự án. Sự ra đời của các công nghệ kĩ thuật tiên tiến và đặc biệt là thời kì bùng nổ công nghệ 4.0 có khả năng cực kì to lớn để thay đổi các lối mòn hiện nay trong quá trình thực hiện và hoàn thành dự án thông qua việc áp dụng hợp đồng thông minh được đề cập lần đầu tiên vào năm 1994 bởi Nick Szabo, vốn chưa có nhiều khả năng áp dụng vì rào cản công nghệ vào thời điểm đó, nhưng hiện nay với công nghệ blockchain các loại hình hợp đồng thông minh với các điều khoản thanh toán, ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên tham gia hết sức chặt chẽ và được xử lí tinh gọn, minh bạch có thể hay chăng sẽ là xu hướng trong những năm sắp tới? Bài viết này sẽ phần nào tháo gỡ, lột tả những vấn đề này thông qua nghiên cứu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tính khả thi của việc áp dụng blockchain hợp đồng thông minh được trong dự án xây dựng. NGUYỄN THIẾP 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. NGUYỄN ANH THƯ TS.
LÊ HOÀI LONG 1. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Ngành công nghiệp xây dựng trên thế giới nói chung và ở việt nam nói riêng, luôn luôn là đầu tàu dẫn đầu của sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Tạo ra cơ sở hạ tầng quốc gia, tạo ra nhiều công việc và đóng góp thật lớn vào tổng sản phẩm quốc nội GDP hàng năm.
Theo Báo cáo đánh giá mới nhất của Bộ Xây dựng, trong năm 2019, lĩnh vực xây dựng nước ta tăng trưởng khoảng 9 - 9. Tỷ lệ đô thị hóa cả nước khoảng 39. Thị trường bất động sản tiếp tục là kênh đầu tư hấp dẫn thu hút đáng kể các nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước. Bộ Xây dựng cũng đã đề ra các chỉ tiêu kế hoạch phấn đấu giá trị xây dựng tăng khoảng 9 – 10% so với năm 2019, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 40% Nhiều cơ hội là thế, tuy nhiên, ngành công nghiệp này vẫn phải chịu đựng nhiều thách thức mà không chỉ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí các doanh nghiệp cực lớn vẫn phải gặp rất nhiều khó khăn.
Chậm thanh toán và không thanh toán, Và như một hệ quả tất yếu, các bên liên quan đều sẽ chịu thiệt hại từ việc chậm và không thanh toán ( Peters et al. Các vấn đề về thanh toán thậm chí còn tồi tệ hơn với các bên liên quan sâu về phía sau của chuỗi, ví như nhà thầu phụ, tổ đội và các nhà cung cấp ( Kaka 2021). Một khảo sát năm 2019 chỉ ra rằng 1138 trường hợp phải mất đến 85 ngày thì Kỹ sư trưởng và các công ty mới hoàn tất thủ tục thanh toán (PwC 2019), điều này đã tăng đáng kể, 10 ngày, kể từ thời gian cùng kỳ vào năm trước đó ( PwC 2018). Theo The McKinsey Global Institute chỉ ra rằng các hợp đồng truyền thống là 1 trong 7 rào cản chính dẫn đến năng suất thấp của các dự án (McKinsey 2017) NGUYỄN THIẾP 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS.
NGUYỄN ANH THƯ TS. LÊ HOÀI LONG Cũng theo McKinsey, việc áp dụng tốt các hợp đồng được ước tính sẽ gia tăng đáng kể năng suất và tiết kiệm chi phí của dự án lên đến 6-8% và 8-10% (McKinsey 2017) Bất chấp những lợi ích tiềm năng của việc tự động hóa thanh toán, và khả năng phát triển tột bậc của ngành công nghệ thời đại hiện nay, các quy trình thanh toán vẫn phụ thuộc, hay thậm chí là lệ thuộc vào các quy trình công việc và các hồ sơ không thật sự hiệu quả, tốn quá nhiều thời gian để soạn thảo, chuẩn bị hồ sơ, xem xét hồ sơ, phê duyệt hồ sơ, và, sau đó mới thực hiện. Các ứng dụng thanh toán hiện nay, thậm chí khi chúng đã được vi tính hóa để hiện đại hơn hồ sơ giấy truyền thống, thì vẫn không thể hỗ trợ tự động hóa thanh toán đáp ứng được tiến độ vì nhiều nguyên nhân, ví như, chúng phụ thuộc vào các cơ chế kiểm soát, xét duyệt tập trung, và thiếu sự đảm bảo. Do đó, nghiên cứu này sẽ tìm cách khám phá, thiết lập các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng hợp đồng thông minh trong các điều khoản hợp đồng của dự án xây dựng.
Dựa vào một cuộc khảo sát các chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm trong ngành, tham gia khảo sát, kết quả khảo sát sẽ được xử lí để cho thấy các yếu tố quan trọng ảnh hưởng thế nào đến khả năng áp dụng, lợi thế mong muốn, lợi thế cạnh tranh và khả năng tương thích của hợp đồng thông minh. NGUYỄN THIẾP 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. NGUYỄN ANH THƯ TS. LÊ HOÀI LONG 1.
Mục tiêu nghiên cứu: - Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng blockchain hợp đồng thông minh trong các dự án xây dựng - Đánh giá khả năng xảy ra: (1) hiếm khi xảy ra, (2) ít xảy ra, (3) thỉnh thoảng xảy ra, (4) thường xuyên xảy ra, (5) luôn luôn xảy ra. - Đánh giá mức độ ảnh hưởng: (1). Ảnh hưởng rất ít, (2). Ảnh hưởng ít, (3) Ảnh hưởng trung bình, (4) Ảnh hưởng lớn, (5) Ảnh hưởng rất lớn.
- Phân tích mối mối tương qua giữa các nhóm nhân tố. - Đưa ra các kiến nghị, giải pháp về hợp đồng thông minh trong dự án cho nhà thầu khi thực hiện hợp đồng thông minh để nâng cao hiệu quả quản lý. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố thuận lợi và rào cản ảnh hưởng đến ý định áp dụng Blockchain Hợp đồng thông minh vào các dự án xây dựng. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu trên phương diện chủ đầu tư và tổng thầu các dự án xây dựng ở Việt Nam áp dụng blockchain hợp đồng thông minh.
Thực hiện trong phạm vi như sau: - Dữ liệu được khảo sát trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. - Các đối tượng khảo sát gồm những người có kinh nghiệm trong ngành xây dựng, các cá nhân đã và đang tham gia vào dự án dân dụng công nghiệp. NGUYỄN THIẾP 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. NGUYỄN ANH THƯ TS.
LÊ HOÀI LONG CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN 2. CÁC ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM: 2. Công nghệ blockchain Trong báo cáo của mình, (Arup, 2019) lưu ý rằng loại bỏ sự cường điệu xung quanh blockchain, công nghệ này sở hữu đặc điểm độc đáo có khả năng giải quyết nhiều thách thức gây khó khăn cho ngành xây dựng ở khắp mọi nơi. Blockchain là một phương thức lưu trữ dữ liệu; nó là một sổ cái kỹ thuật số được chia sẻ cho phép ghi lại một số giao dịch cũng như theo dõi tài sản hữu hình, vô hình và kỹ thuật số trong mạng.
Những tài sản này (ví dụ: đất đai, nhà ở hoặc bản quyền) được theo dõi và giao dịch trên mạng blockchain với rủi ro thấp và giảm chi phí giao dịch (Gupta, 2020). Mỗi khối dữ liệu lưu trữ một loạt các giao dịch cùng với một tóm tắt bằng mật mã của khối trước đó, làm cho các khối dữ liệu được xâu chuỗi lại với nhau và do đó các giao dịch (dữ liệu) là bất biến (Hamledari và Fischer, 2021). Blockchain phô ra một kiến trúc cho phép các nút (ở đây là người dùng) trong mạng chia sẻ và cập nhật sổ cái thông qua sao chép ngang hàng trong một giao dịch và do đó đạt được sự đồng thuận trong giao dịch ngang hàng mạng blockchain (Narayanan, 2016). Một mạng blockchain giới thiệu một chia sẻ chống kiểm duyệt sổ cái giao dịch hiệu quả và kinh tế vì nó tránh hoặc giảm thiểu yêu cầu cho các bên trung gian và tình trạng bị trùng lặp, đồng thời ít bị tổn thất hơn khi áp dụng cơ chế phi tập trung để xác minh dữ liệu (Gupta, 2020).
Do đó, các nút có thể xác minh tính chính chủ và thực hiện xác thực giao dịch. Trong lĩnh vực Fintech, một trường hợp sử dụng phổ biến của công nghệ blockchain là Bitcoin (Nakamoto, 2008), nơi blockchain cung cấp một nền tảng để ghi lại và lưu trữ các giao dịch Bitcoin (Bart et al. Blockchain của Ethereum (Buterin 2014) đi kèm với một giao thức và một ngôn ngữ Turing hoàn chỉnh được tích hợp sẵn cho phép bất kỳ người dùng nào tạo các ứng dụng phi tập trung (DApp) và hợp đồng thông minh (Buterin 2014) có thể được thực thi trên máy ảo Ethereum (EVM). EVM là một máy tính thế giới phi tập trung khiến việc giả mạo hợp đồng thông minh là không thể (Hamledari và Fischer 2021) NGUYỄN THIẾP 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS.
NGUYỄN ANH THƯ TS. LÊ HOÀI LONG 2. Blockchain Hợp đồng thông minh được Hợp đồng thông minh là một trong những thành tích của cách mạng công nghệ blockchain có tính đột phá cao và quan trọng (Tháng 4 năm 2017). Khái niệm hợp đồng thông minh được giới thiệu vào năm 1994 bởi một học giả pháp lý và một nhà khoa học máy tính, Nick Szabo (Szabo 1994).
Szabo định nghĩa hợp đồng thông minh là “một giao dịch được vi tính hóa thực thi các điều khoản của hợp đồng.” Giao thức giao dịch tự động với kỳ vọng đạt được ba mục tiêu lớn: để đáp ứng các điều khoản của thỏa thuận hợp đồng, giảm cả lỗi ác ý và lỗi ngẫu nhiên, và giảm yêu cầu đối với người trung gian trong việc thực thi hợp đồng.