mở đầu kỉ nguyên sản xuất cơ khí trong lịch sử tiến bộ của nhân loại. Trên đất Anh và Tây Âu đã xuất hiện hệ thống đường sắt chạy bằng máy hơi nước; các nhà máy sản xuất bông vải được trang bị bằng động cơ hơi nước với năng suất cao, nhiều sản phẩm cung vượt cầu trong nước, dẫn tới mở rộng lãnh thổ thuộc địa tại các châu lục khác trên thế giới. Thành công vang dội của máy hơi nước là niềm kiêu hãnh của người Anh trong câu nói "Mặt trời không bao giờ lặn trên quốc kì nước Anh" (!). Cuộc CMCN trong lịch sử: (1) Cơ giới hóa, năng lượng nước, năng lượng hơi nước.
(2) Động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt. (3) Máy tính và tự động hóa. (4) Các hệ thống liên kết thực - ảo. Nguồn: [26 (i)] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ` Trước CMCN 1.0 sinh kế của loài người chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp dựa trên các nguồn gỗ, than củi, sức mạnh cơ bắp, sức nước, sức gió với điển hình là cối xay gió và sử dụng sức nước.
Người dân miền núi Việt Nam sử dụng năng lượng dòng sông suối để giã gạo (cối nước) và vận chuyển nước lên cao (cọn). Vậy là sự thống trị hàng ngàn năm của nền văn minh nông nghiệp được thay thế bởi máy hơi nước, các loại vật liệu mới là sắt và than đá, khiến cho năng suất lao động tăng lên và sản phẩm tiêu dùng đa dạng đạt điểm cực thịnh. Những thành phố, những trung tâm thương mại, những hải cảng sầm uất xuất hiện. Các nhà sản xuất bắt tay với các nhà buôn, với các nhà chính trị coi đó là chiến thắng của chủ nghĩa tư bản, xét về quan hệ sản xuất, đó là chiến thắng của cách mạng công nghiệp thực chứng.0 diễn ra cho đến trước Thế chiến I bùng nổ (1914-1916) với việc phát minh ra năng lượng điện công nghiệp, nhanh chóng lan tỏa sang các ngành công nghiệp thép, hóa chất, cơ khí, giao thông trên quy mô lớn và chiếm lĩnh thị trường xuyên biên giới.
May mắn nhất trong lịch sử cận đại của Nhật Bản là tư tưởng cách tân của Nhật Hoàng Minh Trị, người đã cử một đoàn các nhà chính trị và chuyên gia đi Mĩ và phương Tây để học hỏi kinh nghiệm và tìm giải pháp mở cửa cho đất nước vốn đóng kín một cách bí hiểm. Trong cuốn sách "Cánh buồm xanh", người Nhật mô tả chuyến đi lịch sử này với lời nguyền thà chết một lần mở cửa đón nhận phương Tây còn hơn suốt đời núp dưới bóng người Tàu !. Những năm cuối TK XX, trên văn đàn Việt Nam, đã thể hiện niềm hối tiếc xót xa là Việt Nam đã bỏ lỡ cuộc cách mạng này. Gần đây một số nhà kinh tế và lịch sử, và ngay trong diễn đàn Quốc hội, đã thẳng thắn nói đến sự cần thiết không thể bỏ qua CMCN 4.0 nếu không sẽ có tội với lịch sử [26 (i)].0, bắt đầu từ phát minh ra chất bán dẫn, làm cơ sở sản xuất ra các điôt, rất phù hợp với hệ nhị phân, tức là chỉ dùng hai số 0 và 1.
Trong liên kết chuỗi 0 / 1, đưa lạị hệ quả bất ngờ so với hệ thập phân (hệ đếm 10 con số, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ` từ 0 đến 9). Vậy là xuất hiện máy tính cá nhân (PC) khoảng 1970 - 1980. Ngay sau đó, thập niên 1990, xuất hiện internet kết nối toàn cầu. Siêu máy tính của CMCN 3.0, máy móc tự động trong một dây chuyền / một công đoạn sản xuất đòi hỏi hàm lương trí tuệ cao, ít có sự can thiệp của lao động chân tay / cơ bắp.
Nhiều xí nghiệp trước đây cần nhiều lao động chân tay nay được tự động hóa một phần hay toàn phần, thì giờ đây người ta chỉ thấy sự vận hành liên tục các dây chuyền sản xuất. Nhờ đó năng suất lao động được nâng lên đáng kể, giá thành giảm tới mức thấp bất ngờ với sự can thiệp thông minh người điều hành và các nhà quản trị sản xuất và phân phối. Một điều bất ngờ nữa trong CMCN 3.0 là các nhà vật lí khám phá nguồn năng lượng tổng hợp nhiệt hạch, hệ quả cuối cùng là tìm ra nguồn năng lượng sạch lí tưởng năng lượng nhiệt hạch. Sự cố Tsecnobưn là một điển hình cảnh báo loài người trước nguy cơ rò rỉ phóng xạ từ các lò phản ứng hạt nhân.
Việc khắc phục hậu quả rất tốn kém và lâu dài.ở Fukushima Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Khác với các cuộc cách mạng trước đó, CMCN 2.0 diễn ra chủ yếu ở Anh và Mĩ, cuộc CMCN 4.0 lại nổ ra ở Đức. Sự kiện này bắt nguồn từ Chiến lược phát triển công nghiệp của Chính phủ Đức với tên gọi Công nghiệp 4.0 mà sau này sức lan tỏa của nó dẫn tới sự ra đời của khái niệm CMCN 4.0 Khái niệm mới này được công bố tại Hội chợ Hannover, nhằm giới thiệu chương trình hiện đại hóa nền công nghiệp Đức trên cơ sở đổi mới căn bản nền công nghiệp truyền thống (CN 3. Tham vọng Đức là đưa ra một khuôn mẫu mới nhằm tạo lập cách tiếp cận mới trong nền kinh tế.
Và ai muốn, xin mời đến nhận sự trợ giúp của Đức. Nền kinh tế Đức dẫn đầu thế giới về điều kiện đầu tư và cung cấp kĩ thuật / công nghệ hiện đại cho cuộc cách mạng này. Nước Đức tổ chức hàng loạt hội thảo hấp dẫn để thu hút CMCN 4,0 nhằm quảng bá các nhà máy "thông minh". Trên phạm vi toàn cầu với những tùy biến sản phẩm theo nhu cầu khách hàng chứ không bị áp đặt bởi người vận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ` hành (operator) và địa điểm sản xuất cố định, nói cách khác, đó là sự ra đời một mô hình hoạt động mới về nguyên tắc.
Có lẽ điều này đã tác động đến các nhà khoa học luận mà tiêu biểu là Thomas Kuln đề xuất mô hình / khung tư duy mới trong thời đại chúng ta. Không dừng lại hệ thống THỰC / ẢO, các nhà lí thuyết đã phát triển khái niệm CN4.0, với tham vọng đi xa hơn nhiều, và với sức lan tỏa sang các lĩnh vực khác như mã hóa / giải mã ADN (chuỗi gen) cho tới công nghệ nano từ tính toán siêu lượng tử, làm nền tảng cho tương tác vật lí số và sinh học số. Đó chính là sự khác biệt cơ bản của CMCN 4.0 với các cuộc CMCN 2.0 trước đây. Người có công làm rõ nội hàm của CMCN 4.
0 là Klaus Schwab, và chính ông được coi là khai sinh ra khái niệm này, đã diễn giải CMCN 4. một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị ” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet của vạn vật và Internet của các dịch vụ. Từ đây, chúng ta hiểu rằng CMCN 4.0 với nền tảng vật lí thông minh làm cơ sở để nền sản xuất mới trên nền nền tảng AI / IoT / BigData. trong chuỗi chuyển đổi các giá trị thực bằng chuỗi giá trị ảo, nhưng sản phẩm cuối cùng lại là sản phẩm thực.
Người Đức thấy trong CMCN 4.0 là cơ hội để tăng trưởng kinh tế trên nền tảng mới. Nếu các nền tảng cũ đã "đáo hạn" mà dừng lại thì chỉ chuốc lấy tụt hậu và nhanh chóng bị bỏ lại sau cuộc chơi. Nắm bắt cơ hội này, người Đức nỗ lực phổ biến /nói khác đi là quảng bá khái niệm CMCN 4.0 bằng việc soạn thảo chiến lực và thực thi trên quy mô cả nước với các tiêu chuẩn mới nhằm tạo ra các hình mẫu cho người khác phải noi theo. Hệ quả là CMCN 4 có bản quyền / thương hiệu Đức.
Từ "made in Germany 3.0", nước Đức bước ra sân khấu toàn cầu với "made in Germany 4. Ai cần thương hiệu mới này phải đến Đức mà học tập, tư vấn và mua công nghệ CMCN 4.0 của Đức ! Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ` Từ Đức làn sóng CMCN 4.0 lan truyền đến Hàn Quốc. Chính phủ Hàn Quốc soạn thảo chiến lược tích hợp - CNTT&TT và các lĩnh vực có lợi nhuận cao như chế tạo ô tô, đóng tàu, thành lập các vườn ươm công nghệ mới nhằm hỗ trợ cho các khám phá THỰC / ẢO và đưa vào sản xuất và dịch vụ. 2000 doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ, nơi dễ tiếp thu làn sóng công nghệ mới đã nhanh nhạy trong việc xây dựng những nhà máy thông minh.
Lúc đầu tưởng như quá tốn kém, nhưng thật bất ngờ là, các sản phẩm Hàn Quốc trở thành có thương hiệu mạnh. Các máy móc, ô tô của Hàn Quốc có sức cạnh tranh ngang ngửa với Mĩ. Chớp thời cơ này, các nhà đầu tư tới tấp rót vốn cho Hàn Quốc. Hàn Quốc mạnh lên ngoài sức tưởng tượng ! Có điều lí thú cũng cần biết, Hàn Quốc nhanh chóng chuyển giao công nghệ cho Việt Nam như lắp ráp các điện thoại thông minh, các dây chuyền sản xuất ô tô, dây chuyền đóng tàu cỡ lớn cho Việt Nam.
Về thực chất là Hàn Quốc đẩy CMCN 3.0 sang Việt nam. Cũng đồng nghĩa là để dọn rác để xây dựng các nhà máy trên nền tảng mới 4.0 trên "đất nhà mình" (!?). Điều tương tự cũng diễn ra với nền công nghiệp ở Trung Quốc. Họ soạn thảo chiến lược "sản xuất tại" Trung Quốc 2025 không phải là Trung Quốc công xưởng thế giới, mà là một Trung Quốc chế tạo mới tại đất nước 1,5 tỉ dân này, ngay bây giờ đã nổi tiếng với các thương hiệu có khả năng cạnh tranh ngang ngửa như HUAWEI, ALIBABA.
Đồng thời, nước này tham vọng trở thành người khổng lồ về sản xuất robot. Được biết, từ năm 2020, Trung Quốc có dự định sản xuất 100 nghìn robot mỗi năm. Nhờ kết nối IoT và xử lí tức thời từ trung tâm điều hành, truyền đạt / nhận chỉ thị trực tuyến của người quản trị sản xuất mà qui mô công xưởng có cơ hội vượt ra ngoài khuôn khổ hiện hữu, xuyên vùng và xuyên quốc gia, mang tính toàn cầu. Đó không gì khác hơn là sự giao tiếp online mà không cần can thiệp trực tiếp của con người; lúc đó dây chuyền sản xuất tự vận hành giảm tải hoặc tăng tốc phù hợp với lượng đầu vào cũng như đầu ra đang tồn kho.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ` Các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng chi tiết tích hợp thống nhất trong một chuỗi liên hoàn và tự động.