Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương này giới thiệu những điểm chính: lý do tại sao nghiên cứu này được thực hiện, nêu mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. Cũng như nêu ý nghĩa khoa học, thực tiễn và bố cục của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm, đo lường các khái niệm nghiên cứu, lập luận giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu nghiên cứu, mô tả thang đo, thu thập và phân tích dữ liệu.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả đạt được sau khi phân tích dữ liệu: kiểm định thang đo bằng Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định thang đo. Phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy bội để kiểm định mối quan hệ giữa các thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cũng như kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đề ra. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này tóm tắt lại các kết quả chính và đưa ra các khuyến nghị của nghiên cứu, chương này bao gồm 4 phần chính: Tóm tắt nội dung và kết quả nghiên cứu (1), thảo luận kết quả nghiên cứu (2), khuyến nghị (3), Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (4). 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này bao gồm: (1) Các khái niệm về văn hóa tổ chức, khái niệm chia sẻ tri thức, ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức; (2) Các mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức của nhân viên; (3) đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết về ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến chia sẻ tri thức giữa các nhân viên trong tổ chức.1 Khái niệm văn hóa tổ chức Theo quan điểm của De Long (1997), văn hóa tổ chức là các giá trị (sứ mạng, tầm nhìn), quy tắc (cách mọi người trong tổ chức cư xử hoặc những gì họ làm để hoàn thành công việc của họ, mô tả cách thức nhân viên tạo ra, chia sẻ và sử dụng tri thức trong công việc của họ) và thói quen (các hoạt động chính thức hay không chính thức để hoàn thành công việc: các quá trình thực hiện dự án, các cuộc họp nhóm, bảng thời gian).
Văn hóa tổ chức là lịch sử và phản ánh niềm tin của chủ sở hữu của tổ chức và liên kết cá nhân với nhau (Mwaura và cộng sự, 1998). Văn hóa tổ chức là quá trình hoạt động của tổ chức và chia sẻ các giá trị (Applegate và cộng sự, 1999) và là tiêu chuẩn hướng dẫn thái độ và hành vi của nhân viên trong một tổ chức (Baumgartner và Zielowski, 2007). Deal và Kennedy (1983) cho rằng, văn hóa tổ chức có thể khác nhau theo vai trò, cơ cấu quyền lực, khả năng quản lý và tập hợp văn hóa quốc gia hoặc địa phương mà nhà quản lý đưa vào một tổ chức. Một tổ chức có nền văn hóa đặc trưng của nó và phát triển theo thời gian để phản ánh bản sắc của một tổ chức theo 2 loại: văn hóa hữu hình và văn hóa vô hình.
Dạng hữu hình của văn hóa là những triết lý, sứ mạng, những giá trị để hướng dẫn các hoạt động hàng ngày của tổ chức. Dạng vô hình nằm trong hệ thống những quy tắc chưa thể nói ra, hướng dẫn cách thực hiện, hành vi của nhân viên và được thừa nhận trong tổ chức (Mc Dermott và O’Dell, 2001). Theo Schein (2004), văn hóa tổ chức gồm 2 lớp khái niệm: văn hóa hữu hình là tiêu chuẩn hành vi, trang phục, quy 10 định, kỹ năng giao tiếp, ngôn ngữ, lễ nghi. Văn hóa vô hình là các giá trị chung, quy tắc, tin cậy, các giả định của các thành viên tổ chức kinh doanh.
Văn hóa tổ chức, ngoài khả năng tích hợp các hoạt động hàng ngày của nhân viên để đạt được mục tiêu kế hoạch và giúp tổ chức thích nghi tốt với môi trường bên ngoài để phản ứng nhanh và thích hợp. Theo Park và cộng sự (2004), văn hóa tổ chức là các giả định chung, quy ước cơ bản mà một tổ chức xây dựng trong khi giải quyết sự thích ứng với bên ngoài và sự hòa nhập bên trong. Hướng dẫn cho nhân viên mới phương thức làm việc để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Al-Alawi và cộng sự (2007) chỉ ra rằng, các yếu tố của văn hóa tổ chức là quan trọng cho sự thành công của chia sẻ tri thức.
Văn hóa tổ chức có vai trò là xác định mối quan hệ giữa nhân viên và phá vỡ rào cản để chia sẻ tri thức. Theo Areekkuzhiyil (2016) cho rằng, văn hóa tổ chức là một hệ thống các giả định chung, giá trị và tin cậy, điều này chi phối cách mọi người hành xử trong các tổ chức. Những giá trị chung này ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân viên trong tổ chức và cách thức nhân viên ăn mặc, hành động và thực hiện công việc của họ. Từ những quan điểm của tác giả trên ta thấy rằng văn hóa tổ chức tồn tại với 2 dạng: văn hóa nhìn thấy là tiêu chuẩn hành vi, trang phục, quy định, quy tắc, kỹ năng giao tiếp, lễ nghi, những giá trị để hướng dẫn các hoạt động hàng ngày của tổ chức.
Dạng văn hóa vô hình nằm trong hệ thống những quy tắc không được nói ra, hướng dẫn cách thực hiện, hành vi của nhân viên và được thừa nhận trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu kế hoạch và giúp tổ chức thích nghi tốt với môi trường bên ngoài.2 Đo lường văn hóa tổ chức Theo Gupta và Govindarajan (2000), văn hóa tổ chức gồm 6 thành phần chính: hệ thống thông tin, con người (động lực, tin cậy, giao tiếp), quy trình, lãnh đạo, hệ thống thưởng và cấu trúc tổ chức. Năm 2011, nghiên cứu của Islam và cộng sự chỉ xem xét văn hóa tổ chức gồm 4 yếu tố: tin cậy, giao tiếp, lãnh đạo và hệ thống thưởng. 11 Nghiên cứu của tác giả Kathiravelu và cộng sự (2014), xem xét 6 yếu tố của văn hóa tổ chức: tin cậy, lãnh đạo, giao tiếp, hệ thống thưởng, hệ thống thông tin và cấu trúc tổ chức. Nghiên cứu của Huỳnh Thị Thanh Loan (2015), nghiên cứu 6 yếu tố của văn hóa tổ chức: sự tin tưởng, giao tiếp, lãnh đạo, cấu trúc tổ chức, hệ thống khen thưởng và hệ thống thông tin.
Areekkuzhiyil (2016), nghiên cứu các yếu tố của văn hóa tổ chức: giao tiếp, lãnh đạo, động cơ và khen thưởng, tin cậy và cấu trúc tổ chức. Nghiên cứu của Al-Alawi và cộng sự (2007), đã đề xuất 5 yếu tố của văn hóa tổ chức là tin cậy, giao tiếp, hệ thống thưởng và hệ thống thông tin, cấu trúc tổ chức; Vào năm 2015, Dollah và cộng sự thực hiện nghiên cứu các yếu tố quan trọng thành công của chia sẻ tri thức: một nghiên cứu điển hình trong Thư viện đại học với 5 yếu tố đã được nhấn mạnh trong nghiên cứu là tin cậy, giao tiếp giữa nhân viên, hệ thống thông tin, hệ thống thưởng và cấu trúc tổ chức. Tóm lại, dựa trên nghiên cứu về văn hóa tổ chức của các tác giả trên cho thấy, cả văn hóa hữu hình và vô hình đều được khẳng định là có ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức của nhân viên như: tin cậy, giao tiếp, hệ thống thông tin, hệ thống thưởng, cấu trúc tổ chức.2 Chia sẻ tri thức Theo Goldstein (1993), tri thức là sự hiểu biết đầy đủ về các sự kiện, các khái niệm và mối quan hệ giữa chúng và nền tảng cơ bản của thông tin mà một người cần để thực hiện một nhiệm vụ. Theo Novaka và Takeuchi (1995), đưa ra 2 loại tri thức: tri thức rõ ràng và tri thức ngầm.
Tri thức rõ ràng có tính khả thi và truyền đạt bằng ngôn ngữ chính thức. Tri thức ngầm rất khó truyền đạt bằng ngôn ngữ chính thức. Theo Novaka và Konno (1998), tri thức rõ ràng là tri thức có cấu trúc và được hợp thức hóa. Nó chính thức, có hệ thống và dễ dàng thể hiện trong đặc điểm hoạt động, các công thức khoa học hoặc các chương trình máy tính, do đó nó có thể dễ dàng truyền đạt và chia sẻ.
Ngược lại, tri thức ngầm được hiểu và áp dụng một cách vô thức, khó diễn đạt và phát triển trực tiếp từ kinh nghiệm và hành động, học 12 qua quan sát, thử việc. Zack (1999) cho rằng, tri thức ngầm là rất cá nhân, khó có thể chính thức hóa, khó giao tiếp hoặc chia sẻ với người khác. Theo Davenport và Ptusak (1998), tri thức là sự kết hợp của kinh nghiệm, các giá trị, thông tin theo ngữ cảnh và chuyên môn sâu, cung cấp một khuôn khổ cho đánh giá và kết hợp những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức phản ánh kinh nghiệm, sự thật, phán đoán.
Tri thức sinh ra từ kinh nghiệm nhận ra quen thuộc và có thể tạo ra các kết nối giữa những gì xảy ra bây giờ và những gì xảy ra sau đó và cho rằng chia sẻ tri thức là một quá trình các cá nhân trao đổi tri thức lẫn nhau nhằm tạo một nguồn lực có giá trị cho tổ chức. Theo Hendriks (1999), chia sẻ tri thức cho thấy một mối quan hệ giữa ít nhất hai bên – một người có tri thức và người kia thu thập tri thức. Các nhân viên trong tổ chức luôn tạo ra và chia sẻ tri thức. Do đó, chia sẻ tri thức là hoạt động diễn ra tự động.
Theo Dyer và Nobeoka (2000), chia sẻ tri thức là các hoạt động giúp nhân viên làm việc cùng nhau, tạo điều kiện cho việc trao đổi tri thức, tăng cường năng lực học tập của tổ chức và tăng khả năng đạt được các mục tiêu cá nhân và tổ chức. Chia sẻ tri thức là các hoạt động phổ biến hoặc chuyển giao tri thức giữa các cá nhân, nhóm hoặc tổ chức (Lee, 2001). Nơi các cá nhân trao đổi tri thức ngầm và rõ ràng của họ và tạo ra tri thức mới (Hooff và Ridder, 2004). Theo Hoegl và cộng sự (2003), chia sẻ tri thức là một văn hóa tương tác xã hội, liên quan đến việc trao đổi tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên trong tổ chức.
Theo Bartol và Srivastava (2002); Connelly và Kelloway (2003), chia sẻ tri thức là một tập hợp các hành vi liên quan đến việc hỗ trợ trao đổi thông tin cho người khác. Một cá nhân chia sẻ tri thức, thông tin, ý tưởng, chuyên môn liên quan và trao đổi với đồng nghiệp trong tổ chức của mình.