Chương 1 trình bày lý do tác giả muốn thực hiện đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên: trường hợp tại các ngân hàng TMCP tại TP.HCM” là do nhận thấy vấn đề chia sẻ tri thức thực sự rất quan trọng nhưng có nhiều bất cập, chưa thỏa mãn và chưa phát huy hết tại các tổ chức ngân hàng. Mục tiêu của nghiên cứu là đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi chia sẻ tri thức của các nhân viên ngân hàng. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 mục đích sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này bao gồm: (1) các khái niệm về hành vi chia sẻ tri thức, các yếu tố tác động và mối liên quan, (2) các mô hình nghiên cứu trước đây có liên quan và (3) đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến hành vi chia sẻ tri thức. Các khái niệm và nội dung nghiên cứu 2.
Kiến thức Kiến thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục. Kiến thức chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành. Nó có thể tiềm ẩn, chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tường minh, như những hiểu biết lý thuyết về một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống. Tri thức “Tri thức là tiến trình hoạt động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân về cái mình cho là “chân lý” (Nonaka và Takeuchi, 1995).
Tri thức có thể được định nghĩa là sự kết hợp giữa giá trị, kinh nghiệm, thông tin theo hoàn cảnh và hiểu biết sâu sắc để cung cấp sự đánh giá, kết hợp để tạo ra thông tin và kinh nghiệm mới (Gammelgaard và Ritter, 2000). Họ cho rằng tri thức được bắt nguồn và áp dụng ngay trong tâm trí, tiềm thức của con người. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ xuất hiện trong các tài liệu mà còn là trong thói quen, thực tiễn và quá trình làm việc của tổ chức. Thêm vào đó, tri thức là việc sử dụng đầy đủ các thông tin kết hợp dữ liệu cùng với những kỹ năng, trực giác, ý tưởng, cam kết và động lực của con người.
“Tri thức thường bị nhầm lẫn với thông tin nhưng xét về mặt tổng quát, thực chất tri thức và thông tin là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau” (Grey, 2007). Thông tin tập hợp các dữ liệu thô chưa được xử lý, số đo và thống kê. Trong khi đó, 8 tri thức phức tạp hơn thông tin, kết quả thông tin từ việc tổ chức dữ liệu thành các hình thức có ý nghĩa. Tri thức là kết quả của việc giải thích thông tin dựa trên sự hiểu biết của một người, nó chịu ảnh hưởng bởi tính cách của chủ sở hữu nó vì nó dựa trên sự phán đoán và trực giác; Tri thức kết hợp niềm tin, thái độ và hành vi (Lee và Yang, 2000).
Tri thức có thể được xem như thông tin mà nó đạt tới sự sáng tỏ, sự phán quyết và những giá trị. Trong nhiều trường hợp, tri thức thể hiện sự thật, vì vậy nó cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động. Tri thức là kho tàng của sự hiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của con người (đặc biệt từ những người khác). Không giống như những nguồn tài nguyên khác, tri thức là nguồn tài nguyên vô tận, ngày càng được mở rộng, gia tăng chứ không cạn kiệt trong quá trình sử dụng.
Jain và các công sự (2007) cho rằng tri thức là nguồn lực đầu vào quan trọng trong hầu hết các tổ chức vì nó cho phép các tổ chức phát triển và tạo ra các lợi thế cạnh tranh của mình, trong khi Hsu (2006) nhấn mạnh tri thức giúp tổ chức đánh giá nhân viên, giúp nhân viên thực hiện công việc và tạo ra lợi thế cạnh tranh cuối cùng của tổ chức. Do đó, việc quản lý, khai thác sử dụng tri thức có hiệu quả giúp tổ chức có thể duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh và là yếu tố quan trọng đối với sự thành công của một tổ chức. Phân loại tri thức Tri thức có 2 dạng tồn tại chính: - Tri thức hiện: được diễn đạt bằng ngôn ngữ hình thức, trao đổi dễ dàng giữa các cá nhân; có thể dễ dàng biểu diễn bằng nhiều cách khác nhau: công thức khoa học, thủ tục tường minh, giáo dục chính quy.; bao gồm thông tin, dữ liệu, sách báo, tài liệu, văn bản đã được hệ thống. - Tri thức ẩn: có được và ẩn chứa trong từng cá nhân, mang tính chủ quan, như những hiểu biết riêng, trực giác, kỹ năng, linh cảm, niềm tin, kinh nghiệm; khó chia sẻ hoặc trao đổi, chuyển giáo với người khác, chỉ có thể có được bằng cách tự tập luyện.
Quản lý tri thức 9 Armstrong (2009) định nghĩa quản lý tri thức là bất kỳ quá trình nào của việc tạo ra, tiếp thu, nắm bắt, chia sẻ, và sử dụng tri thức ở bất kỳ nơi nào, để nâng cao sự học hỏi và hiệu quả làm việc trong các tổ chức, là quá trình quản lý và thúc đẩy các kiến thức của tổ chức một cách tự động và tích cực. Quản lý tri thức còn là quá trình sản xuất, phân phối, biểu diễn và ứng dụng tri thức một cách có hệ thống, để tổ chức sản xuất và truyền tải cả tri thức ẩn và hiện của một nhân viên cho những nhân viên khác có thể sử dụng hiệu quả hơn trong công việc (Bhatt, 1998). Việc sử dụng tri thức ngày càng tăng trong các doanh nghiệp đã góp phần vào sự xuất hiện của lý thuyết quản lý tri thức, hiện là một trong những chủ đề nóng nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và quản lý tài liệu. Quá trình quản lý tri thức liên quan đến một số hoạt động.
Hoạt động được thảo luận nhiều nhất trong quá trình quản lý tri thức hiện nay là chuyển giao kiến thức (chia sẻ kiến thức). Chia sẻ kiến thức rất quan trọng đối với mọi doanh nghiệp vì nó giúp tri thức được truyền tải đến cho các những người cần sử dụng nó trong tổ chức một cách nhanh hơn. Mục tiêu của quản lý tri thức là nắm bắt và truyền tải tri thức trong tổ chức trước khi nó bị quên lãng hay bị mất đi do nhân viên nghỉ việc. Tri thức được cất giữ trong bộ não của nhân viên nên là tài sản vô cùng quan trọng.
Do đó, quản lý tri thức cũng như chia sẻ tri thức cũng quan trọng không kém. Quản lý tri thức là một định nghĩa rộng với rất nhiều nhân tố như truyền tải tri thức (knowledge transfer), hội nhập tri thức (knowledge integration), chia sẻ tri thức (knowledge sharing) và sáng tạo tri thức (knowledge creation). Trong nghiên cứu này chỉ tập trung khai thác yếu tố chia sẻ tri thức và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức. Chia sẻ tri thức 2.
Hành vi chia sẻ tri thức Hành vi chia sẻ tri thức được định nghĩa là hành vi trao đổi tri thức (kỹ năng, kinh nghiệm và sự hiểu biết) giữa các cá nhân trong tổ chức (Tsui và các cộng sự, 2006). Chia sẻ tri thức là nền tảng cốt lõi của quản lí tri thức, là mảng quan trọng nhất của quản lý tri thức (Gupta và các cộng sự, 2000). Geraint (1998) cho rằng chia 10 sẻ tri thức có thể giúp cán bộ nhân viên chia sẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm để giúp những dự án, kế hoạch hoàn thành một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, hành vi chia sẻ tri thức liên quan đến từng cá nhân trong việc chia sẻ với tổ chức thông tin, ý tưởng, đề xuất và sự thành thạo đến những người khác.
Theo Maponya (2004), hành vi chia sẻ tri thức dựa trên kinh nghiệm thu được trong quá trình làm việc trong và ngoài tổ chức. Nếu tri thức có sẵn trong các thành viên, tổ chức sẽ giảm thiểu các quyết định trùng lặp và giải quyết vấn đề sẽ nhanh hơn. Các hoạt động chia sẻ tri thức hiệu quả giúp tái sử dụng tri thức của từng cá nhân và nâng tri thức lên một tầm cao mới. Tsui và các cộng sự (2006) định nghĩa các cơ chế của hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức bao gồm: - Đóng góp tri thức vào cơ sở dữ liệu của tổ chức.
- Chia sẻ tri thức trong quá trình tương tác chính thức và không chính thức với các thành viên trong và ngoài đội/nhóm làm việc. - Chia sẻ tri thức trong các hoạt động cộng đồng. Cũng như tri thức, chia sẻ tri thức cũng có thể nhìn thấy được (như giao tiếp bằng lời nói, tài liệu…) hoặc không nhìn thấy được (có thể xảy ra trong các hoạt động xã hội, sự quan sát hoặc các hoạt động tư vấn…) Các tổ chức cần xem xét tạo ra văn hóa chia sẻ tri thức chuyên nghiệp để thực hiện các chiến lược nhằm mục đích phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Bởi khi đó tổ chức sẽ không lệ thuộc vào tri thức của một số ít cá nhân và những thành viên khác đều được hưởng lợi từ việc tri thức được chia sẻ rộng rãi.
Chia sẻ tri thức liên quan đến việc tri thức đến được với đúng đối tượng ngay khi người đó có nhu cầu. Tổ chức cần tạo ra một nền văn hóa và thiết lập các hành vi cư xử để mỗi người xem việc chia sẻ tri thức như là hoạt động hàng ngày. Chia sẻ tri thức trong tổ chức được xem là yếu tố cốt lõi cho việc học hỏi và mang lại rất nhiều lợi ích to lớn khác. Hoạt động chia sẻ tri thức của bất kỳ bộ phận nào cũng sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các thành viên trao đổi ý kiến và thúc đẩy hoạt động hợp tác để có thể tối đa hóa hiệu quả làm việc của nhân viên và thúc đẩy thành công chung 11 của tổ chức.
Tổ chức có thể gia tăng những giá trị tiềm năng không ngờ khi các ý tưởng mới được nảy sinh trong quá trình chia sẻ tri thức. Các hình thức chia sẻ tri thức Ta chia các hình thức chia sẻ tri thức thành bốn dạng chính: - Hiện - Hiện: là một tập hợp các tri thức “hiện” sẵn tồn tại, ta tạo ra tri thức “hiện” khác. Việc này được thể hiện bằng cách sao lưu, tổng hợp hay chuyển giao dữ liệu. - Ẩn - Ẩn: Khi người chia sẻ giao tiếp trực tiếp với người tiếp nhận (ví dụ: dạy nghề, trao đổi, giảng dạy.