mở đầu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chƣơng này trình bày các lý thuyết nền, các nghiên cứu trƣớc có lien quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phƣơng pháp kiểm định thang đo, kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Mô tả thông tin mẫu nghiên cứu, kết quả phân tích dữ liệu và thảo luận về kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày kết luận, đƣa ra một số kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu, nêu ra hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. Luận văn đƣợc thực hiện trong thời gian 6 tháng từ tháng 05 đến tháng 10 năm 2013. 7 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chƣơng 2 sẽ trình bày phần cơ sở lý luận làm nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu, thang đo và các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến các yếu tố văn hóa tổ chức và chia sẻ tri thức trong các doanh nghiệp xây dựng tại Tp.
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan : 2. Tri thức và chia sẻ tri thức: 2. Khái niệm tri thức: Khái niệm tri thức đƣợc đề cập đến từ xa xƣa trong triết học phƣơng Tây. Đối với hầu hết các triết gia nhƣ Plato, Aristotle, Descartes, Dewey, và Polanyi, tri thức đƣợc định nghĩa là “lòng tin có lý do chính đáng về sự thật”.
Định nghĩa này vẫn còn rất phổ biến ngày nay. Ví dụ Nonaka (1994) định nghĩa tri thức là một quá trình năng động của con ngƣời để tìm lý do chính đáng cho những lòng tin cá nhân trong khát vọng tìm hiểu sự thật. Nhiều năm sau đó khái niệm tri thức đƣợc phát triển bởi nhiều tác giả khác. Trong đó, Davenport and Prusak (1998) đƣa ra một định nghĩa khá toàn diện về tri thức khi cho rằng tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin, và sự hiểu biết thông thái mà có thể giúp đánh giá và thu nạp thêm những kinh nghiệm và thông tin mới.
Tri thức đƣợc tạo ra và ứng dụng trong đầu óc của những ngƣời có nó. Trong một tổ chức, tri thức không chỉ đƣợc hàm chứa trong các văn bản và tài liệu, mà còn nằm trong thủ tục, quy trình, thông lệ, và nguyên tắc của tổ chức đó. Phân loại tri thức: Các công trình nghiên cứu hiện nay trên thế giới phân loại tri thức theo nhiều cách khác nhau. Trong đó phổ biến nhất là phân chia theo tri thức ẩn hoặc tri thức hiện, tri thức cá nhân hoặc tri thức tổ nhóm Tri thức ẩn và tri thức hiện : Tri thức hiện (Explicit knowledge) là những tri thức đƣợc giải thích và mã hóa dƣới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chƣơng trình máy tính, chuẩn mực hay các phƣơng 8 tiện khác.
Đây là những tri thức đã đƣợc thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, thƣờng đƣợc tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính quy. Tri thức ẩn (Tacit knowledge) là những tri thức thu đƣợc từ sự trải nghiệm thực tế, dạng tri thức này thƣờng ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó “mã hóa” và chuyển giao, thƣờng bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng. Các tri thức ẩn có thể đƣợc chia làm 2 khái niệm nhỏ nữa: Các tri thức mang tính kỹ thuật, chuyên môn: gồm các kỹ năng có thể có đƣợc sau nhiều năm công tác. Hiểu biết và nhận thức: gồm các giản đồ, các mô hình trí tuệ, niềm tin, nhận thức đã ăn sâu vào tâm trí mỗi ngƣời.
(Nguồn: http://vi.org/wiki/Tri_thuc) Tri thức ẩn và tri thức hiện phụ thuộc lẫn nhau, mặc dù chúng là hai loại tri thức khác nhau. Tuy nhiên, cũng không tồn tại một biên giới rõ ràng giữa hai loại tri thức này. Do đặc tính dễ truyền đạt nên tri thức hiện dễ bị sao chép. Cũng chính vì vậy, tri thức ẩn có xu hƣớng tạo ra lợi thế cạnh tranh nhiều hơn, bởi vì nó đáp ứng đƣợc yêu cầu „khó bắt chƣớc‟ trong số các tiêu thức để tạo ra lợi thế cạnh tranh do Barney (1991) đề ra.
Theo ông, chỉ có những nguồn lực khan hiếm, có giá trị, không thể bắt chƣớc, và không thể thay thế mới là nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Tri thức cá nhân và tri thức nhóm: Tri thức cá nhân đề cập đến những tri thức do các cá nhân làm chủ. Theo trƣờng phái Descartes, cá nhân là những “kho” chứa và vận dụng hiểu biết lớn nhất, nếu không nói là duy nhất (Cook và Brown, 1999). Tri thức nhóm là loại tri thức đƣợc chia sẻ chung trong nhóm (Cook và Brown, 1999).
Có lẽ hình thức đƣợc nói đến nhiều nhất của tri thức nhóm là tri thức tổ chức, thể hiện ở khả năng của một công ty trong việc tạo ra tri thức mới, chia sẻ nó trong toàn bộ tổ chức, và đƣa tri thức đó vào trong sản phẩm, dịch vụ, và hệ thống của công ty (Nonaka và Takeuchi, 1995). Ví dụ của tri thức tổ chức là nguyên 9 tắc hoạt động, công nghệ sản xuất, và cơ sở dữ liệu khách hàng (Kogut và Zander, 1992). Để tạo ra năng lực cạnh tranh, một doanh nghiệp cần phát triển tri thức cho các cá nhân, cũng nhƣ xây dựng tri thức chung cho cả tổ chức. Tri thức cá nhân có thể biến thành tri thức tổ chức và ngƣợc lại.
Điều này tuỳ thuộc vào khả năng của các cá nhân trong tổ chức cũng nhƣ cơ chế khuyến khích sự chia sẻ tri thức trong tổ chức đó. Đƣơng nhiên, một doanh nghiệp chỉ có những cá nhân với những tri thức hạn chế thì rất khó thành công (đặc biệt khi doanh nghiêp đó cạnh tranh trong những ngành đòi hỏi mức độ tri thức cao nhƣ đào tạo, tƣ vấn, tài chính, bảo hiểm, công nghệ thông tin v.v…), song nếu tổ chức có những cá nhân tuyệt vời nhƣng không có cơ chế thích hợp để biến tri thức cá nhân thành tri thức tổ chức thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó cũng sẽ mất đi cùng với sự ra đi của các cá nhân này. Quá trình hình thành tri thức: Iske và Boersma (2005) nói rõ rằng kết quả tri thức là từ sự tƣơng tác của những hiểu biết của ai đó (qua kinh nghiệm, trực giác và thái độ), thông tin và trí tƣởng tƣợng (tạo ra những ý tƣởng và hình dung tƣơng lai). Tri thức không đƣợc nhầm lẫn với dữ liệu, dữ liệu là những thông tin thô, đo lƣờng và thống kê.
Tri thức thì phức tạp hơn so với thông tin, thông tin là kết quả từ việc tổ chức dữ liệu thành các hình thức có ý nghĩa. Tri thức là kết quả của việc giải thích thông tin dựa trên sự hiểu biết của một ngƣời, nó bị ảnh hƣởng bởi tính cách của ngƣời sở hữu nó bởi vì nó đƣợc dựa vào phán đoán và trực giác, tri thức kết hợp niềm tin, thái độ và hành vi (Lee và Yang, 2000). Tri thức đƣợc coi là một tài sản của tổ chức. Trong khi các nền kinh tế truyền thống dựa vào tài sản hữu hình nhƣ đất đai, vốn, ngày nay nền kinh tế đã phát triển xem tri thức nhƣ các yếu tố sản xuất cơ bản để tạo ra lợi thế cạnh tranh (Beijerse, 1999).
Các đặc tính quan trọng nhất của tri thức là tính độc đáo và mới mẻ. Khi đƣợc tạo ra, tri thức không thể đƣợc bắt chƣớc hoặc thay thế, mà nó là một nguồn 10 tài sản chiến lƣợc quan trọng cho tất cả các doanh nghiệp (Cabrera và Cabrera, 2002). Quản lý tri thức: Theo Malhotra (1997), tri thức đƣợc chứa trong trí óc của các thành viên tổ chức, là tài nguyên to lớn nhất của tổ chức. Do đó, Malhotra thừa nhận, công tác quản lý tri thức không chỉ là quản lý tài sản tri thức, mà còn là quản lý các quy trình giữa các cá nhân và tổ chức đƣợc thực hiện thông qua những tài sản này.
Rastogi (2000) định nghĩa quản lý tri thức nhƣ một quy trình mang tính hệ thống và tích hợp, phối hợp hoạt động thu nhận, tạo ra, lƣu trữ, chia sẻ, truyền bá, phát triển và triển khai các tri thức trong toàn bộ tổ chức bởi các cá nhân và các nhóm trong sự theo đuổi các mục tiêu chính của tổ chức. Nó là quá trình mà qua đó các tổ chức tạo ra và sử dụng kiến thức chung của họ bằng cách kết hợp học tập tổ chức, tạo ra và phân phối tri thức. Mặc dù các khái niệm mang nhiều sắc thái khác nhau, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng quản lý tri thức là rất quan trọng cho các doanh nghiệp trên toàn thế giới, cho dù điều này liên quan đến kiến thức về thị trƣờng, đối thủ cạnh tranh, hoặc các quá trình (Martin, 2000; Nonaka và Takeuchi, 1995). Tại sao phải quản lý tri thức? Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, các nhà đầu tƣ thƣờng nghiêng về các công ty có năng lực quản lý tốt và có khả năng thích nghi nhanh chóng với những thay đổi của thị trƣờng thay vì chỉ chú trọng đến giá trị tài sản của công ty.
Tƣơng lai và giá trị của một công ty phụ thuộc vào khả năng phát triển các sản phẩm/dịch vụ mới một cách nhanh chóng và kịp thời để có thể bắt nhịp với những nhu cầu luôn thay đổi. Thay vì một số cách tiếp cận truyền thống nhƣ quản lý chất lƣợng toàn diện (TQM) hay tái cơ cấu quá trình, các doanh nghiệp giờ đây coi quản lý tri thức nhƣ một yếu tố mới nhƣng quan trọng nhất để giữ vững lợi thế cạnh tranh bằng thoả mãn khách hàng. Tóm lại, có 5 lý do chính mà một doanh nghiệp cần phải quản lý tri thức. Đó là: 11 Nhu cầu học hỏi trong một tổ chức luôn tồn tại nhƣng thời lƣợng cho việc bồi bổ kinh nghiệm và kiến thức lại giảm đi rất nhiều do phải chú trọng vào các tác nghiệp hàng ngày.
Vậy, các tổ chức cần kiến tạo và sử dụng tri thức một cách thông minh nhất để không bị tụt hậu. Cơ chế thị trƣờng tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho ngƣời lao động. Nhu cầu thay đổi nơi làm việc của ngƣời lao động có trình độ và kỹ năng cao tăng lên chính là nguy cơ suy giảm nguồn tri thức của tổ chức.