Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, lý do nghiên cứu được thực hiện cũng như mục tiêu mà nghiên cứu cần đạt được. Bên cạnh đó, chương này cũng nêu lên được đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu, kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết, một số nghiên cứu trước đây và mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương 2. 123doc 8 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết: giới thiệu các khái niệm, lý thuyết liên quan đến động lực bên trong, động lực bên ngoài và mối quan hệ giữa hai động lực này với ý định chia sẻ tri thức với nhân viên, lược khảo các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.
Khái niệm tri thức Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “tri thức”. Trước đây, “tri thức” được liên tưởng đến các thuật ngữ như dữ liệu, thông tin, trí tuệ, kỹ năng, kinh nghiệm, chuyên môn, ý tưởng, trực giác, hoặc hoặc là sự hiểu biết, tất cả tùy thuộc vào bối cảnh khác nhau (Gao, Li và Clarke, 2008). Theo bách khoa toàn thư điện tử, Wikipedia: tri thức hay kiến thức (tiếng Anh: knowledge) bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục. Trong tiếng Việt, cả "tri" lẫn "thức" đều có nghĩa là biết.
Và theo từ điển tiếng Việt, “tri thức” là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội. Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành. Nó có thể ẩn tàng, chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tường minh như những hiểu biết lý thuyết về một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống. Theo Alavi và Leidner (2001), tri thức là thông tin trong tâm trí của mỗi người, nó là thông tin được cá nhân hóa (có thể mới hay không, độc đáo, chính xác, hữu ích) liên quan đến sự lập luận, cách giải thích và cách đánh giá của cá nhân đó.
123doc 9 Drucker (1993) cho rằng hiệu suất của việc sử dụng tri thức là yếu tố quyết định vị thế cạnh tranh của một công ty, một ngành công nghiệp hay một quốc gia vì chúng ta đang đi vào một xã hội tri thức, trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không phải là vốn mà sẽ là tri thức. Qua những khái niệm trên ta có thể hiểu tri thức là những kiến thức mà con người tạo ra, tích góp và lưu trữ qua thời gian. Tri thức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của con người, đó là dữ liệu mà con nguời lưu giữ để sống, để tồn tại và để phát triển. Nhất là trong một tổ chức, tri thức không đơn thuần là kiến thức của một cá nhân mà nó còn tài sản của cả doanh nghiệp.
Khái niệm chia sẻ tri thức và ý định chia sẻ tri thức Theo Akhavan, Ghojavand và Abdali (2012), tri thức của tổ chức là một tài sản vô hình để tạo ra giá trị cốt lõi, con người được xem là nhân tố quan trọng nhất cho việc lan truyền tri thức; vì vậy tri thức phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ và sự tương tác giữa người với người. Trong quá trình tương tác, con người sẽ trao đổi tri thức cho nhau và tạo ra tri thức mới. Do đó việc chia sẻ tri thức được xem là rất quan trọng. Hooff và Ridder (2004) định nghĩa chia sẻ tri thức là một quá trình mà các cá nhân trao đổi các tri thức tiềm ẩn và tri thức hiện hữu để tạo ra tri thức mới.
Theo Lin (2007a), chia sẻ tri thức có thể được định nghĩa như một văn hóa tương tác mang tính xã hội, liên quan đến việc nhân viên của các bộ phận, tổ chức trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng. Ví dụ như nhân viên sẵn lòng giao tiếp, chia sẻ với đồng nghiệp và học hỏi lẫn nhau. Cũng theo Gao và cộng sự (2008), chia sẻ tri thức là quá trình cho và nhận tri thức, trong đó sự sáng tạo và chia sẻ tri thức phụ thuộc vào nỗ lực có ý thức của cá nhân làm cho tri thức được chia sẻ. Liao và cộng sự (2013) định nghĩa chia sẻ tri thức như một sự chia sẻ cộng đồng liên quan đến thông tin, ý tưởng, những gợi ý hay những kiến thức chuyên môn của mỗi người.
123doc 10 Như vậy, có thể hiểu chia sẻ tri thức là quá trình cho và nhận tri thức, làm cho tri thức có thể được tái sử dụng bởi những người khác. Theo từ điển tiếng Việt, “ý định” là sự rắp tâm làm việc gì đó. Theo từ điển tiếng Anh Longman Exams Coach, “ý định” (intention) là kế hoạch, là sự mong muốn thực hiện một điều gì đó. Vì vậy ý định chia sẻ tri thức là sự chủ ý muốn chia sẻ những kiến thức tích góp được với người khác.
Khái niệm động lực bên trong và động lực bên ngoài Deci (1971, 1972), Davis và cộng sự (1992) cho rằng một cá nhân có thể bị thúc đẩy cả về bên trong lẫn bên ngoài để tham gia vào những hoạt động hiện tại. Theo Deci (1975), động lực bên trong là niềm vui và sự tự thỏa mãn từ việc thực hiện một hành động đặc biệt nào đó; động lực bên trong giải thích việc thực hiện hành động là vì những mục đích riêng, vì sở thích, niềm vui, hoặc sự thỏa mãn bắt nguồn từ kinh nghiệm. Khi một cá nhân bị thúc đẩy bởi động lực bên trong thì họ sẽ hành động vì niềm vui, vì sự thách thức hơn là vì áp lực bên ngoài hay phần thưởng (theo Deci và Ryan, 2000). Theo Deci và Ryan (1987), động lực bên ngoài tập trung vào những lý do mang tính định hướng về mục tiêu, ví dụ như những phần thưởng hay lợi ích có được do thực hiện hành động.
Gerhart và Milkovich (1992) cũng cho thấy rằng những yếu tố như: sự khuyến khích mang tính cá nhân, lương, tiền thưởng tương xứng, sự chia sẻ có thể giúp nhân viên thể hiện tốt hơn. Những người mà được thúc đẩy bởi ngoại lực thì có khả năng thực hiện hành động (Watchravesringkan và cộng sự, 1971). Những nhân viên được tạo động lực từ bên ngoài thì rất nhạy cảm với những phần thưởng và hình phạt (Yousaf, Yang và Sanders, 2014). Thêm nữa, những hành động mà được gợi ra bởi động lực bên ngoài thì rất có thể là vì sự hấp dẫn của kết quả đạt được (Davis và cộng sự, 1992).
Mối quan hệ giữa động lực bên trong, động lực bên ngoài và ý định chia sẻ tri thức Theo Davis và cộng sự (1992), Watchravesringkan và cộng sự (2010), động lực đóng một vai trò quan trọng trong việc dự đoán hành vi cá nhân. Một người nào đó sẽ cảm thấy tự do và có ý chí hơn nếu hành vi của họ phù hợp với mục đích và ý định cá nhân (Ke và Zhang, 2010). Nhất là trong tổ chức, khi một cá nhân có khuynh hướng xem kiến thức chuyên môn là tài sản riêng và lợi thế cạnh tranh thì họ ít có khả năng chia sẻ nó với người khác (Kuo, 2012). Do đó cần có động lực để thực hiện hành vi chia sẻ này.
Theo Deci và Ryan (1987); Teo, Lim và Lai (1999) hai khía cạnh rộng của động lực đó là động lực bên trong và động lực bên ngoài. Theo Osterloh và Frey (2000), động lực bên ngoài để nhân viên chia sẻ tri thức là niềm tin vào kết quả thực hiện mà chủ yếu dựa vào nhận thức của nhân viên về giá trị đạt được với việc trao đổi tri thức. Ví dụ như khi nhân viên tham gia trao đổi kiến thức thì họ dựa trên một sự phân tích về chi phí và lợi ích, họ sẽ so sánh những phần thưởng hay lợi ích đạt được từ việc trao đổi với các nỗ lực mà họ bỏ ra đã hay còn gọi là chi phí bỏ ra. Và theo Ryu, Ho và Han (2003), nhìn từ khía cạnh kinh tế - xã hội, nếu các lợi ích nhận được bằng hoặc vượt quá chi phí thì việc trao đổi sẽ được tiếp tục, nếu không nó sẽ dừng lại.
Còn theo Grant (1996), động lực bên trong liên quan đến việc tự nỗ lực dựa trên sự quan tâm và thích thích thú với chính hành động. Vậy nên nếu động lực bên ngoài đến từ các yếu tố ngoại cảnh thì động lực bên trong đến từ chính bản thân người thực hiện hành động. Cụ thể là, thông qua việc chia sẻ tri thức, nhân viên có thể được thỏa mãn bằng cách tự tăng cường kiến thức của họ hoặc tự tin vào khả năng cung cấp tri thức hữu ích cho tổ chức (Constant, Kiesler và Sproull, 1994). Vì vậy động lực chính là lý do lý giải hành động (Grant, 1996) và động lực bên trong, bên ngoài là hai yếu tố quan trọng quyết định ý định và hành vi chia sẻ tri thức của một cá nhân lẫn tổ chức trong xã hội.
Lược khảo các công trình nghiên cứu trước đây 2. Lý thuyết về hành động hợp lý (The theory of reasoned action - TRA) - Fishbein và Ajzen (1975) Niềm tin về kết quả Thái độ hướng của hành vi tới hành vi Ý định thực hiện Hành vi Những niềm tin có Những quy tắc hành vi tính quy chuẩn về chủ quan về hành vi hành vi Hình 2.1: Mô hình lý thuyết về hành động hợp lý (Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975) TRA là một lý thuyết chung về tâm lý học xã hội nghiên cứu về hành vi của con người. TRA thừa nhận rằng tất cả các hành vi trong xã hội bị ảnh hưởng bởi niềm tin, thái độ và dự định. Vì vậy nó được áp dụng rất nhiều trong việc dự đoán và giải thích hành vi nói chung.
Fishbein và Ajzen cho rằng ý định là việc tự xác định hướng hành động dựa vào thái độ và quan điểm chủ quan của một cá nhân hướng tới hành vi nào đó, những hành vi mà những người có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân đó nghĩ họ nên hay không nên thực hiện. Đây được xem là lý thuyết nền của nhiều nghiên cứu về hành vi của con người nói chung. Như nghiên cứu của Lin (2007a, 2007b); Dong, Chau và Grossman (2010) về hành vi chia sẻ tri thức của các cá nhân trong xã hội. Các mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng dựa trên khung TRA gốc kết hợp với các quan 123doc 13 điểm khác nhau về lý do thực hiện hành vi từ đó hình thành nên mô hình nghiên cứu chính thức.