Chương 1. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên trong công việc Chương 2. Thiết kế nghiên cứu Chương 3. Kết quả đánh giá sự hài lòng của nhân viên của nhân viên tại công ty cổ phần Cảng Đà Nẵng.
Kết luận và hàm ý chính sách cả ¡ thiện sự hài lòng của nhân viên trong công việc tại công ty có phần Cảng Đà Nẵng. 12 CHUONG I CO SO LY THUYET VA THUC TIEN NGHIÊN CỨU VE SU HAI LONG CUA NHAN VIEN TRONG CONG VIEC 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LONG CUA NHAN VIEN TRONG CÔNG VIỆt LL Khai niệm sự hài lòng của nhân viên trong công việc Cho đến nay, sự hài lòng của nhân viên trong công việc là một khái niệm vẫn chưa được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu do có sự khác nhau từ góc nhìn và lĩnh vực nghiên cứu. Sự hài lòng của nhân viên có thể do lường ở mức độ chung, cũng có.
thể đo lường với từng thành phần của công việc Định nghĩa về sự hài lòng chung trong công việc có những khái niệm - Weiss, D. Với việc định nghĩa như vậy, các nhà nghiên cứu này xem xét khái niệm sự hài lòng của nhân viên trong công việc như là một biến chung, mang tính cảm xúc và có thể ảnh hưởng đến kết quả công việc. Nếu như phân tích thuật ngữ công việc thì thấy đó cũng là thuật ngữ khá chung chung, bởi nó có thể bao gồm trong đó nhiều đặc điểm của công việc: loại công việc, inh chat công việc, các nhiệm vụ, hành vi làm việc. nhưng đo lường tổng thể không quan tâm đến các chỉ tiết như vậy.
Với cách tiếp cận này, sự hài lòng của nhân viên trong công việc và thái độ công việc thường đi song hành với nhau. 13 Thai độ tích cực đối với công việc được coi như tương đương với sự hai long công việc và thái độ tiêu cực đối với công việc chỉ ra sự không hài lòng công việc. Tuy nhiên, với việc định nghĩa như vậy sẽ dẫn đến khó khăn trong việc đo lường sự hài lòng của nhân viên trong công việc vì đây là những khái niệm. khá trừu tượng Trong khi đó, định nghĩa về sự hài lòng với các thành phần công việc lại có các quan điểm sau; - Theo Smith, Kendal va Hulin (1969), mức độ thỏa mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của người lao động về các khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc; cơ hội đào tạo và thăng tiến; lãnh đạo; đồng nghiệp; tiền lương) của họ [31] - Hackman va Oldham (1975) lại cho rằng sự thỏa mãn của người lao động là chuỗi giá trị của nhận thức và trải nghiệm qua đó kết hợp các đặc điểm công việc cốt lõi như: kỹ năng làm việc, tính chất công việc, tằm quan trọng công việc, quyền quyết định và phản hỏi tạo động lực làm việc [20].
- Kreitner và Kinicki (2007) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc chỉ phản ánh một phần vẻ thái độ đối với công việc mà người lao động yêu thích cũng như mức độ hải lòng trong các thang đo nhân tố đánh giá: thu nhập, cơ hội thăng tiến, quan hệ đồng nghiệp và thang đo nhân tố khác mà họ mong đợi [26] Với cách tiếp cận này, việc phân chia sự hài lòng trong công việc với các thành phần công việc sẽ giúp đo lường sự hài lòng một cách cụ thể và rõ ràng hơn. Tuy nhiên, đối với mỗi ngành, lĩnh vực ngành nghẻ khác nhau cũng như trong điều bối cảnh làm việc cụ thể khác thì mức độ ảnh hưởng và số lượng các thành phần này cũng sẽ khác nhau, do đó sẽ khó có một mô hình thống nhất đề áp dụng chung trong việc đo lường. ấy đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự hài 14 lòng của nhân viên trong công việc. Qua đó, có thể hài lòng của người lao động về công việc thông qua rất nhiều khía cạnh, có nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau và tùy vào từng quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu.
Mỗi công trình nghiên cứu khác nhau, mỗi cách tiếp cận vẫn đề thực tiễn khác. nhau cho một cái nhìn về một khía cạnh khác của sự hải lòng đối với người lao động trong công việc cũng như có sự lý giải riêng về mức độ hài lòng và các yếu tố tạo nên sự hài lòng của người lao động. Tuy nhiên, nhìn chung có. hai xu hướng định nghĩa sự hài lòng của nhân viên đó là (i) xem xét sự hài lòng của nhân viên là một biến chung mang tính chất cảm xúc (tích cực hoặc tiêu cực) của người lao động tới công việc, có thể ảnh hưởng đến niềm tin, hành vi của người lao động; (ii) xem xét sự hài lòng của nhân viên dưới nhiều khía cạnh công việc khác nhau.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả định nghĩa sự hài lòng cáa nhân viên của người lao động chính là trạng thái cảm nhận và đánh giá của người lao động đối với các thành phần liên quan đến công việc của họ. Nói một cách khác, sự hài lòng chung trong công việc và sự hài lòng với các khía cạnh hay thành phần công việc là các biến khác nhau và chúng có mối quan hệ với nhau. 1: Đo lường sự hài lòng của nhân viên trong công việc Chi số mô tả công việc (Job Description Index) của Smith et al (1969), bảng mô tả công việc (Job Satisfaction Survey - JSS) của Spector (1997) và bảng câu hỏi sự hải lòng Minnesota (Minnesota Satisfaction Questionair - MSQ) của Weiss et al. (1967) la 3 céng cu đặc trưng trong đo lường sự hài lòng công việc, trong đó JDI và MSQ là 2 công cụ được sử dụng rộng rãi cả trong thực tiễn và lý thuyết.
Mô hình JDI của Smith (1969) được xem là có các nội dung tốt, các khái niệm có cơ sở và đáng tin cậy (Kerr, 1995 dẫn theo Trần Kim Dung, 2005) 15 Mặc dù được đánh giá cao về lý luận và thực tiễn nhưng JDI cũng có những điểm yếu của nó: ~ Thứ nhất, vii sử dụng bộ câu hỏi 72 câu được xem là quá dài gây khó khăn cho việc điều tra lấy dữ liệu. - Thứ hai, dạng câu hỏi trong mô hình JDI nguyên thủy là dạng câu trả lời Có - Không không đánh giá được nhiều mức độ hài lòng khác nhau. của nhân viên. ~ Thứ ba, trong JDI không có câu hỏi đánh giá sự hải lòng chung của nhân viên.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình JDI điều chỉnh với các câu hỏi được thiết kế ở dạng thang đo Likert giúp ích cho việc đánh giá được nhiều mức độ cảm nhận của nhân viên hơn và số câu hỏi cũng được điều chỉnh còn ít hơn so với mô hình JDI nguyên thủy (ví dụ Trằn Kim Dung, 2005; Hà Nam Khánh Giao và Võ Thị Mai Phương, 201 1. Các nghiên cứu của Spector (1985) được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất đều cho kết quả khá thấp, chính vì thế Spector (1997) đã xây dựng một mô hình riêng _- mô hình JSS cho các nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ, gồm có 9 yếu tố là (i) lương, (i) cơ hội thăng tiến, (iii) điều kiện làm việc, (iv) sự giám sát, (v) đồng nghiệp, (vi) yêu thích công việc, (vii) giao tiếp thông tin, (viii) phần thưởng bắt ngờ và (ix) phúc lợi. Mô hình này được phát triển và ứng dụng chủ yếu ở phòng nhân sự của các tổ chức dich vụ và các tổ chức phi lợi nhuận như bệnh viện, trung tâm chăm sóc sức khỏe,.32] Nghiên cứu của Weiss và đồng nghiệp (1967) của trường đại học Minnesota thì đưa ra các tiêu chí đo lường sự thỏa mãn công việc thông qua bảng câu hỏi sự hài lòng Minnesota (MSQ). MSQ sử dụng một trong 2 bảng.
đo sau: một bảng đo dài gồm 100 mục (phiên bản 1977 và phiên bản 1967) 16 với mỗi khía cạnh sẽ được đo lường bởi thang đo Likert 5 điểm” và một bảng. đo ngắn hơn gồm 20 mục (ứng với 20 yếu tố) đánh giá mức độ hài lòng chung về mỗi khía cạnh. Các câu trả lời cho mỗi yếu tố đánh giá được cộng tổng điểm hoặc cộng trung bình, tạo nên một điểm tông cộng. Nếu điểm tông cộng.
này cảng thấp thì mức độ hài lòng của người lao động trong công việc cũng. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của MSQ là bảng câu hỏi qua dai Nếu dùng hình thức 20 câu hỏi ngắn hơn thì độ sai lệch lớn và không theo. phản ánh được cảm nhận của nhân viên [33] Như vậy, có thể thấy có nhiều công cụ được sử dụng để đo lường sự hài lòng của nhân viên trong công việc. Mỗi công cụ có nhưng ưu và nhược điểm riêng của nó.
Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét tình hình thực tẾ cũng như những đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cỗ phần Cảng Đà Nẵng, tác giả nhận thấy JDI là phù hợp để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu của luận văn bởi vì mô hình JSS chỉ phù hợp với những tổ chức dịch vụ hoặc. tổ chức phi lợi nhuận; mô hình MS lại có điểm yếu là khá phức tạp để thực hiện đối với một cá nhân; trong khi đó mô hình JDI là mô hình phổ biến và đã được kiểm chứng sự tin cây tại môi trường Việt Nam qua các nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005), Hà Nam Khánh Giao (2011), 1 nghĩa của việc làm hài lòng nhân viên Sự hài lòng của nhân viên là cực kỳ quan trọng trong bất kỳ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ. Sự hài lòng của nhân viên có tác dụng hai chiều, cả với doanh nghiệp lẫn chính bản thân nhân viên, tuy nhiên mức độ và cường độ quan trọng là có khác nhau. Đối với doanh nghiệp, sự hài lòng của nhân viên tác động đến mọi mặt của hoạt động doanh nghiệp bao gồm: (1) tắt không hài lòng với khía cạnh này của công việc; (2) không hải lòng với khía cạnh này của công việc (G) không quyết định được là hải lòng hay không hải lòng với khia cạnh này của công việc; (4) hải lòng với khía cạnh.
này của công việc, (S) rất hải lòng với khia cạnh này của công việc 7 ~ Thứ nhất là gia tăng hiệu suất nhân sự. Nhân viên hài lòng với công việc sẽ có thái độ và hành vi tốt hơn, tận tâm cống hiến và chủ động học hỏi, phát triển trong công việc. Điều nảy làm gia tăng năng suất tổng thể của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình.