phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng chính: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Thiết kế mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Kiến nghị và hàm ý giải pháp 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC 1. Định nghĩa cán bộ công chức, viên chức Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, thƣờng xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, ngƣời ta đã đƣa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức" và "viên chức".
Thuật ngữ "cán bộ" đƣợc sử dụng khá lâu tại các nƣớc xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những ngƣời làm việc thuộc khu vực nhà nƣớc và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ "công chức", "viên chức" thƣờng đƣợc hiểu một cách khái quát là những ngƣời đƣợc Nhà nƣớc tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nƣớc trả lƣơng và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nƣớc theo các quy định của pháp luật. Định nghĩa công chức Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối 7 với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Định nghĩa viên chức ―Viên chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật‖.
Chúng ta có thể phân biệt khái niệm ―công chức‖, ―viên chức‖ theo các tiêu chí cơ bản sau: Bảng 1.1: Phân biệt công chức, viên chức Khái niệm Công chức Viên chức Tiêu chí cơ bản Tính chất - Vận hành quyền lực nhà - Thực hiện chức năng xã hội, nƣớc, làm nhiệm vụ quản lý. trực tiếp thực hiện kỹ năng, - Thực hiện công vụ thƣờng nghiệp vụ chuyên sâu. xuyên - Thực hiện các hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn. Hình thức Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết Thi tuyển hoặc xét tuyển, do tuyển dụng định của cơ quan nhà nƣớc có ngƣời đứng đầu đơn vị sự thẩm quyền, trong biên chế.
nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ thực hiện (hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý thực hiện hoặc theo phân cấp) Căn cứ Yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc Nhu cầu công việc, vị trí việc tuyển dụng làm và chỉ tiêu biên chế làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập 8 Chế độ Hƣởng lƣơng từ ngân sách Hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của lƣơng nhà nƣớc, theo ngạch bậc. đơn vị sự nghiệp công lập Nơi làm Cơ quan Đảng, nhà nƣớc, tổ Đơn vị sự nghiệp công lập. việc chức CT-XH, Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát…. Tiêu chí - Năng lực, trình độ chuyên - Năng lực, trình độ chuyên đánh giá môn nghiệp vụ; môn nghiệp vụ; - Tiến độ và kết quả thực hiện - Hiệu quả công việc (số nhiệm vụ; lƣợng, chất lƣợng).
- Tinh thần trách nhiệm và - Thái độ phục vụ nhân dân. phối hợp trong thực thi nhiệm vụ; - Thái độ phục vụ nhân dân. Hình thức - Khiển trách; - Khiển trách; kỷ luật - Cảnh cáo; - Cảnh cáo; - Hạ bậc lƣơng; - Cách chức; - Giáng chức; - Buộc thôi việc. - Cách chức; - Buộc thôi việc.
Nguồn: Luật cán bộ công chức số: 22/2008/QH12 và luật viên chức số: 58/2010/QH12 Qua những khái niệm về đối tƣợng công chức và viên chức, tuy có sự khác biệt về căn cứ và hình thức tuyển dụng, chế độ lƣơng, nơi làm việc nhƣng về cơ bản các quyền lợi, trách nhiệm, tiêu chí đánh giá và hình thức kỷ luật giữa công chức và viên chức không có sự khác biệt nhiều. Vì vậy khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng công việc của công chức, viên chức, tác giả sẽ sử dụng cùng một phƣơng pháp nghiên cứu và cùng bản câu hỏi. Định nghĩa sự hài lòng công việc Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc và mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ để đƣa ra các nguyên nhân có thể dẫn đến sự hài lòng công việc. Nghiên cứu của Smith (2007) chỉ ra rằng công việc giữ vai trò trung tâm trong cuộc sống của nhiều ngƣời.
Vì vậy, theo Smith, sự hài lòng với công việc của một ngƣời là một thành phần quan trọng trong tổng thể hạnh phúc của ngƣời lao động. Theo Hoppock (1935) đƣợc trích dẫn bởi Brikend (2011) sự hài lòng đối với công việc là sự kết hợp giữa các yếu tố tâm sinh lý và các yếu tố môi trƣờng làm việc. Locke (1976) đƣợc trích dẫn bởi Lisa và cộng sự (2004) nhấn mạnh sự hài lòng đối với công việc là sự hài lòng và có cảm xúc tích cực về sự thăng tiến trong công việc và kinh nghiệm làm việc. Schermerhorn (1993) trích trong Navdeep Kumar (2011), định nghĩa sự hài lòng đối với công việc là sự phản hồi tích cực đối với những mặt khác nhau trong công việc.
Ông nhấn mạnh những nguyên nhân khiến nhân viên hài lòng đối với công việc của mình bao gồm: vị trí, lãnh đạo, mối quan hệ đồng nghiệp, sự hài lòng công việc, lƣơng thƣởng, sự thăng tiến, môi trƣờng làm việc, cấu trúc tổ chức. Tƣơng tự nhƣ vậy, Mc Namara (2004) trích trong Muhammad (2010), chỉ ra rằng sự hài lòng công việc đề cập đến cảm giác hoặc trạng thái tinh thần của một cá nhân đối với tính chất công việc của từng cá nhân đó. Các tác giả giải thích thêm rằng sự hài lòng của công việc có thể bị ảnh hƣởng bởi sự đa dạng về khối lƣợng công việc, mối quan hệ của nhân viên với nhà quản lý, môi trƣờng làm việc, mức độ hoàn thành công việc. 10 Nhìn chung, sự hài lòng với công việc đƣợc hiểu là cảm xúc yêu thích và hƣớng đến công việc của mình.
Theo Kim Dung (2005), sự hài lòng đối với công việc của nhân viên đƣợc định nghĩa và đo lƣờng theo cả hai khía cạnh: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng theo các yếu tố thành phần công việc. Hài lòng chung thể hiện cảm xúc bao hàm chung lên tất cả các khía cạnh của công việc. Một quan điểm khác coi sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hƣởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Cả hai cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lƣờng mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc (Price 1997).
Tuy nhiên, sử dụng cách tiếp cận theo thành phần công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào đƣợc nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất (DeConinck and Stilwell C.Vì vậy, cách tiếp cận về sự hài lòng công việc theo các thành phần công việc sẽ đƣợc áp dụng trong luận văn nghiên cứu. Lợi ích từ sự hài lòng công việc của nhân viên Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển của các tổ chức (Wheeland, 2002). Để tạo ra sự trung thành và gắn bó với tổ chức cần tạo ra sự hài lòng của ngƣời lao động với công việc họ đang thực hiện. Việc làm hài lòng và tạo ra sự trung thành sẽ giúp cho tổ chức giảm đƣợc các chi phí tuyển dụng, đào tạo và tạo động lực để ngƣời lao động làm việc với nâng suất lao động cao.
Đội ngũ nhân viên có tay nghề cao và giàu kinh nghiệm thƣờng hoàn thành công việc một cách hiệu quả trong thời gian ngắn hơn so với nhân viên mới và thiếu kinh nghiệm trong công việc. Ảnh hƣởng của chất lƣợng làm việc, năng lực của đội ngũ nhân sự đã đƣợc các nhà nghiên cứu chất lƣợng thừa nhận. Nghiên cứu của Saari and Judge (2004) cũng cho thấy sự hài lòng công việc có ảnh hƣởng đến hiệu suất công việc của ngƣời lao động. Nhìn chung các nghiên cứu cho thấy việc làm hài lòng công việc sẽ làm cho 11 ngƣời lao động trung thành hơn, ít xin nghỉ việc hơn hay giảm tình trạng đình công hay gia tăng các hoạt động công đoàn (Saari and Judge, 2004).
CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC Trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu về sự hài lòng. Các nghiên cứu này có cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau do đƣợc thực hiện dựa trên các lý thuyết nền tảng. Có nhiều lý thuyết nền tảng đã đƣợc sử dụng để nghiên cứu về sự hài lòng nhƣng tựu trung lại, chúng thƣờng thuộc về 3 trào lƣu: các lý thuyết tình huống, các phƣơng pháp tiếp cận phi ngoại cảnh và các lý thuyết về tƣơng tác (Wang, Ni, Xie, 2006): - Các lý thuyết về tình huống cho rằng sự hài lòng của một ngƣời đối với công việc là do bản chất công việc của ngƣời đó hoặc các yếu tố khác thuộc môi trƣờng làm việc. - Các phƣơng pháp tiếp cận phi ngoại cảnh lại giả định rằng sự hài lòng đối với công việc của một ngƣời bắt nguồn từ các đặc trƣng tâm sinh lý cá nhân.
- Các lý thuyết tƣơng tác lập luận rằng sự hài lòng đối với công việc đến từ sự tƣơng tác giữa tình huống và cá tính.