Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu – Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Nêu rõ kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết và các khái niệm về năng lực tâm lý, chất lượng cuộc sống công việc, sự thỏa mãn công việc, kết quả công việc; trình bày mối quan hệ giữa các yếu tố thành phần trong mô hình nghiên cứu.
Lược khảo những công trình nghiên cứu trước đây. Đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và xác định mô hình nghiên cứu đề xuất. Phương pháp nghiên cứu – trình bày qui trình nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Trình bày phương pháp nghiên cứu định tính để điều chỉnh, bổ sung và đánh giá các thang đo yếu tố thành phần, các khái niệm nghiên cứu.
Trình bày nghiên cứu định lượng sơ bộ để khẳng định các giá trị, mức độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA các yếu tố thành phần thu được từ nghiên cứu định tính. Phân tích kết quả nghiên cứu – trình bày, phân tích kết quả nghiên cứu định lượng chính thức, kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu, các mối quan hệ giữa các yếu tố thành phần. Thảo luận kết quả nghiên cứu. Hàm ý và kết luận – Tóm tắt các kết quả và đưa ra ý nghĩa khái quát, nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và kiến nghị các bước nghiên cứu tiếp theo.
Đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn để nâng cao kết quả công việc của nhân viên làm việc trong lĩnh vực thương mại điện tử tại địa bàn Tp. 123doc 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Chương 2 sẽ tập trung trình bày về các khái niệm và các lý thuyết được sử dụng trong bài nghiên cứu bao gồm: khái niệm về năng lực tâm lý, khái niệm về chất lượng cuộc sống công việc, khái niệm sự thỏa mãn công việc, khái niệm kết quả công việc; mô hình các nghiên cứu trước đây có nghiên cứu và đề cập đến một trong các mối quan hệ giữa năng lực tâm lý, chất lượng cuộc sống công việc, sự thỏa mãn công việc đến kết quả công việc, cũng như mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và chất lượng cuộc sống công việc, sự thỏa mãn công việc. Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Năng lực tâm lý 2.
Khái niệm năng lực tâm lý Theo Luthans (2002a, 2002b; et al., 2007) năng lực tâm lý được xem là “trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân được biểu thị qua việc: đủ tự tin để nỗ lực vượt qua thử thách để thành công; lạc quan trong công việc ở hiện tại; kiên trì theo đuổi mục tiêu và có những nỗ lực cần thiết để vạch ra những chiến lược cụ thể nhằm đạt được mục tiêu và thành công; khi gặp khó khăn, kiên trì tìm những phương thức giải quyết hiệu quả để tiến đến thành công”. Để xác định các yếu tố cấu thành nguồn năng lực tâm lý, trong nghiên cứu của Luthans (2002) cũng đề cập cho rằng các yếu tố này phải dựa trên lý thuyết và các nghiên cứu thực có, có thể đo lường được và mang tính trạng thái. Một khái niệm về năng lực tâm lý được tiếp tục phát triển bởi Luthans và cộng sự (Luthans & Youssef, 2004) năng lực tâm lý có thể được định nghĩa là “kiểm tra quá trình đóng góp vào sự hoạt động và phát triển bởi thái độ tích cực, sự phản hồi, sự phê bình của một cá nhân, nhóm hoặc tổ chức”. Trong khi đó, Ramin Aliyev & cộng sự (2014) định nghĩa “năng lực tâm lý là sự phát triển tâm lý một cách tích cực của một cá thể”.
Năng lực tâm lý liên quan đến “người đó là ai” và “người đó có thể là ai” (Luthans, Youssef & Avolio, 2006). 123doc 8 Những nghiên cứu về năng lực tâm lý của Luthans & Yourself (2002a, 2002b, 2004); Luthans và cộng sự (2007a, 2007b); Luthans (2013) đã trở thành những nghiên cứu đưa ra những lý luận mang tính cốt lõi và đặt nền móng cho nhiều nghiên cứu kế thừa sau này. Các thành phần của năng lực tâm lý Những nghiên cứu của Luthans và cộng sự (2002a, 2002b; 2007; 2008; 2009) đã chứng minh và khẳng định rất nhiều vấn đề liên quan đến thành phần của năng lực tâm lý trên cỡ mẫu nghiên cứu rất đa dạng khác nhau như lấy mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên trong nghiên cứu đo lường mối quan hệ gắn kết của nhân viên (Luthans, 2008), lấy mẫu là các giảng viên trong các 3 trường đại học lớn ở Nepal trong nghiên cứu về tác động của Năng lực tâm lý và các thành phần của năng lực tâm lý lên kết quả công việc (Luthans, 2009);… Các nghiên cứu chỉ ra bốn nhân tố thuộc trạng thái tâm lý tích cực đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên đó là tính tự tin, niềm hi vọng, tính lạc quan và sự thích nghi. Stajkovic (2006) cũng phát triển bốn yếu tố trên cho mô hình động lực “tự tin cốt lõi”, từ đó càng xác nhận thêm tính thực tế của bốn nhân tố.
Trong nghiên cứu của tác giả, yếu tố thành phần năng lực tâm lý cũng dựa trên những nghiên cứu tích lũy của Luthans & cộng sự (2007) và thang đo năng lực tâm lý cũng được kế thừa từ những nghiên cứu trước đó này. Tự tin (Self – efficacy) Để đáp ứng các tiêu chí của năng lực tâm lý cũng như năng lực tâm lý tích cực thì có lẽ sự phù hợp tốt nhất đối với năng lực tâm lý đó chính là sự tự tin. Vị trí này được xác định dựa trên những lý thuyết mang tính chất toàn diện và nghiên cứu sâu rộng của Bandura (1997). Theo Albert Bandura (1997) định nghĩa sự tự tin là “niềm tin của con người về khả năng của họ để tạo ra một mức độ hiệu quả của những công việc mà có ảnh hưởng tới những vấn đề tác động đến cuộc sống của họ”.
Nghiên cứu sau này được phát triển bởi Bandura, đề cập đến sự tự tin với sự nhấn mạnh dùng để liên kết xây dựng cấu thành nên năng lực tâm lý tích cực (Bandura, 2007). 123doc 9 Trong khi đó, đối với môi trường công việc thì Stajkovic and Luthans (1998) đã định nghĩa sự tự tin như là “một cách gọi khác của niềm tin cá nhân về khả năng của mình để tạo động lực, nguồn nhận thức, và các hành động cần thiết để thực hiện thành công nhiệm vụ cụ thể trong một bối cảnh cụ thể”. Trong một phân tích gộp gồm 114 nghiên cứu, họ đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa sự tự tin với kết quả và hiệu suất liên quan đến công việc (Stajkovic& Luthans, 1998). Một số định nghĩa khác về sự tự tin như Luszczynska & Schwarzer (2005) xác định sự tự tin là “sự tự tác động hiệu quả để bản thân tự đặt cho mình những nỗ lực cần thiết, mang đến sự thành công trong những nhiệm vụ, thử thách”.
Mặt khác, Ormrod (2006) xác định sự tự tin được xem như là một yếu tố cá nhân, là sự tự tin vào khả năng của mình để đạt được kết quả mong muốn. Tự tin trong đề tài nghiên cứu được xác định dựa trên nghiên cứu của Bandura (1997; 2007) với sự nhấn mạnh về vai trò liên kết của sự tự tin trong việc xây dựng cấu trúc của năng lực tâm lý (Luthans, 2002a, 2002b, 2004, 2007). Cụ thể, Martin Seligman (1998) đề cập khái niệm lạc quan như là “một sự tự ghi nhận từ bên trong, tương đối ổn định, sự kết hợp liên quan đến sự kiện mang tính chất tích cực như là thành tựu, mục tiêu, một tác nhân từ bên ngoài, hoặc có thể biểu hiện đi cùng với một biến cố cụ thể của những sự kiện xảy ra mang tính chất tiêu cực trong khi đi tìm mục tiêu”. Để tránh những chỉ trích về sự lạc quan, Luthans nhấn mạnh yếu tố sự lạc quan mang tính chất thực tế (Luthans, 2002b; Luthans, Youssef et al.
Nói cách khác, sự lạc quan không dựa trên một quá trình được kiểm soát mà không có đánh giá thực tế bao gồm những đánh giá khách quan về những gì mà người ta có thể thực hiện trong một tình huống cụ thể, đưa ra các nguồn lực sẵn có tại thời điểm đó; và do đó, sự lạc quan có thể khác nhau đối với các học thuyết khác nhau (Peterson, 2000) 123doc 10 Sự lạc quan được định nghĩa bởi Sneider (2001) & Degrandpre (2000) là “khuynh hướng duy trì duy trì trạng thái triển vọng tích cực trong những ràng buộc của các hiện tượng có thể đo lường nằm trong thế giới vật chất và xã hội”. Theo Peterson & cộng sự (2011) sự lạc quan có nghĩa là “sự kỳ vọng tích cực trong tương lai”. Mặt khác, Synder & cộng sự (1991) định nghĩa “sự lạc quan là sự kỳ vọng chung mà cá nhân hy vọng cho sự kiên trì và sự kiên trì để đạt được mục tiêu”. Hy vọng (Hope) Sự hy vọng là một từ được sử dụng rộng rãi hằng ngày nhưng ý nghĩa ở đây thì mang ý nghĩa gắn kết chặt chẽ với học thuyết và các nhà nghiên cứu tâm lý học tích cực (Snyder, Sympson, Ybasco, Borders, Babyak, & Higgins, 1996; Snyder, 2000, 2002) nó được công nhận và phổ cập rộng rãi trong vị trí cấu thành nên tâm lý tích cực, hỗ trợ cho các nghiên cứu liên quan đến năng lực tâm lý.
Theo Cetin and Basım (2011) hy vọng là “một niềm tin để xác định các mục đích quan trọng và một quá trình khắc phục những trở ngại cá nhân”. Snyder và các cộng sự (1991) đã đặc biệt xác nhận hy vọng được xác định như một “sự trông cậy – trạng thái tạo động lực tích cực. Điều này dựa trên một ý nghĩa tương quan có nguồn gốc của sự thành công (1) sự hiệu quả, có tác dụng – mục tiêu chính để tạo động lực (2) Con đường - lập kế hoạch để đạt được mục tiêu”. Snyder và cộng sự (1996) đã phát triển khái niệm hy vọng thành sự kiên trì hướng đến mục tiêu và khi cần thiết thì chuyển hướng nhiệm vụ để hướng bản thân đến mục tiêu chung, hy vọng để thành công.