Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tiếp theo, chương 2 sẽ trình bày những nội dung cơ bản về các cơ sơ lý thuyết liên quan đến các thành phần của yếu tố tâm lý, các thành phần của chất lượng đời sống công việc, các thành phần của kết quả công việc của các nhà nghiên cứu. Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết.1 Yếu tố tâm lý: Trong lịch sử xa xưa của nhân loại, thuật ngữ tâm lý bắt nguồn từ tiếng La tinh “Psychology” khoa học về tâm hồn. Nó được bắt nguồn từ hai từ ghép “Psyche” là linh hồn, tinh thần và “logos” là học thuyết, khoa học.
Trong từ điển tiếng Việt (1988) định nghĩa một cách tổng quát: tâm lý là ý nghĩ, tình cảm… tạo thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người. Vậy tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, nó gắn liền và điều hành mọi hành vi, hoạt động của con người. Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý. Tức là nghiên cứu con người nhận thức thế giới khách quan bằng con đường nào, theo quy luật nào, nghiên cứu thái độ của con người đối với cái mà họ nhận thức được hoặc làm ra.
Hành vi tổ chức tích cực (Positive organizational behavior- POB), là 1 trong 2 lĩnh vực nghiên cứu của tâm lý học tích cực, tập trung vào việc đo lường khả năng, tâm lý tích cực của nhân viên, cố gắng khám phá và phát triển những khả năng của nhân viên để cải thiện kết quả công việc. Theo Luthans (2007) cho rằng yếu tố tâm lý của từng cá nhân có thể thay đổi khác nhau dựa trên từng bối cảnh cụ thể và tính cách của mỗi cá nhân. Đến nay, yếu tố tâm lý đã được khái niệm hóa và liên kết với kết quả công việc như năng suất và các hành vi thể hiện vai trò của cá nhân 2.1 Sự tự tin (Self-efficacy): Tác giả Stajkovic và Luthan (1998) đã nhận định sự tự tin là việc đề cập đến "những nhận định về khả năng của bản thân có thể tự tạo động lực, đủ nhận thức để hành động và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể một cách thành công'' Nhà tâm lý học Albert Bandura đã định nghĩa tự tin là “niềm tin vào khả năng thành công trong các tình huống cụ thể” (Bandura, 1977). Sự tự tin đóng một vai trò quan trọng trong phương pháp tiếp cận mục tiêu, nhiệm vụ và thách thức.
Cũng theo lý thuyết của Bandura, những người có sự tự tin cao cũng là những người xem những nhiệm vụ khó khăn là việc mà họ phải thực hiện một cách chủ động và tích cực chứ không tránh né với tâm lý tích cực, chủ động hăng hái, tích cực và từ đó sẽ cho kết quả cao hơn. Sự tự tin sẽ giúp nhân viên ngành dầu khí sử dụng kiến thức và kỹ năng của họ dám đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn được giao đặc biệt là những công trình, dự án đòi hỏi kỹ thuật cao, hiện đại trong công tác tìm kiếm, thăm dò-khai thác-chế biến-vận chuyển dầu khí từ đó hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn giúp phát triển tổng thể ngành dầu khí Việt Nam, để đưa ngành công nghiệp dầu khí lên tầm cao mới.2 Lạc quan (Optimism) Theo tác giả Schneider 2001, sự lạc quan là khuynh hướng luôn giữ quan điểm tích cực trong mọi hoàn cảnh. Hành vi tổ chức tích cực (Positive organizational behavior –POB) cũng tập trung nghiên cứu lạc quan thực tế, nó góp phần tăng cường và tập trung vào những mặt triển vọng của cuộc sống. 123doc 8 Lạc quan cũng là một tâm lý sống tích cực của con người.
Con người có thể vượt qua được những khó khăn, thách thức hay những điều đáng tiếc xảy ra trong cuộc sống hay không chính là nhờ vào sự lạc quan trong thái độ sống của chính họ. Trong tổ chức doanh nghiệp nói chung và trong ngành dầu khí nói riêng, sự lạc quan giúp nhân viên có thái độ tích cực trước những khó khăn, thay đổi của môi trường làm việc từ đó lập kế hoạch và triển khai công việc tốt hơn. Ngành dầu khí Việt Nam đang đối mặt rất nhiều thách thức: trữ lượng dầu mỏ đang giảm dần do tốc độ khai thác cao hơn tốc độ thăm dò; việc mở rộng thăm dò khai thác ra vùng biển sâu sẽ rất tốn kém và rủi ro; việc mở rộng sang các lĩnh vực khác chịu sự cạnh tranh tương đối lớn do đối thủ cạnh tranh đã có kinh nghiệm lâu năm hơn; kế hoạch tái cấu trúc tập đoàn dầu khí có ảnh hưởng đến từng doanh nghiệp trong ngành. Do đó, ngành dầu khí Việt Nam đang cần nhiều hướng đi mới nhằm đương đầu với những thách thức hiện tại thì tinh thần lạc quan rất quan trọng.
Lạc quan sẽ giúp nhân viên sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ với những khó khăn trước mắt.3 Hy vọng (Hope); Tác giả Snyder, Rand, và 2002 Sigmon, 257 cho rằng hy vọng phản ánh "niềm tin mà ta có thể tìm thấy con đường đến mục tiêu mong muốn và có động lực để sử dụng những con đường đó''. Hy vọng được đo lường bởi: đường lối (con đường để có quyền lực) và bộ máy (sẽ nắm quyền lực). Đường lối đề cập đến khả năng tạo ra các lộ trình hoàn toàn khả thi để đạt được mục tiêu mong muốn và bộ máy liên quan đến khả năng nhận thức của những người đã sử dụng con đường để đạt được mục tiêu mong muốn (Snyder et al 1996;Snyder, Rand, và Sigmon 2002). Trong ngành dầu khí, hy vọng là con đường tạo thuận lợi cho nhân viên thực hiện các mục tiêu, sứ mạng của cá nhân nói riêng và cả ngành dầu khí nói chung.
Tính hi vọng của nhân viên trong công việc thể hiện ở việc chủ động thực hiện những mục tiêu công việc bằng nhiều cách khác nhau, vượt qua môi trường làm việc khắc nghiệt.4 Thích nghi (Resiliency). Thích nghi là thành phần cuối cùng của yếu tố tâm lý, thích nghi liên quan hàng loạt các hiện tượng được khằng định bởi thích ứng tích cực trong bối cảnh của nghịch cảnh hoặc có nguy cơ đáng kể" (Masten và 2002 Reed, 75), có thể làm cho mỗi cá nhân hồi phục nhanh chóng và hiệu quả từ những hoàn cảnh trái ngược Theo tác giả Block & Kremen, 1996; Masten at all, 1985, thích nghi là sự khác nhau giữa những người có khả năng hồi phục tốt sau khi gặp phải sự trái ngược và những người vẫn bị ảnh hưởng và không thể tiếp tục gượng dậy nếu gặp phải tình huống tương tự. Theo tác giả Richardson, 2002 tranh cãi rằng những người thích nghi cao hơn sẽ hồi phục tâm lý ở mọi tình huống (bao gồm cảm xúc và nhận thức) hay thậm chí ngoài sự mong đợi. Nhiều nghiên cứu cho rằng thích nghi xuất phát từ tâm lý đơn giản mà dựa vào đó bác sĩ trị liệu sẽ tập trung chữa trị bằng cách can thiệp vào các khả năng thích nghi và các nguy cơ của từng người (Masten, 2001).
Khả năng cá nhân là những tính cách có thể đo lường được những kết quả tích cực và thích nghi với nghịch cảnh. Những khả năng này liên quan đến nguồn lực, và nơi làm việc có thể sẽ tạo nên một chương trình phát triển và đào tạo (Masten và Reed, 2002). Ngược lại, các nhân tố tiềm ẩn cũng là những tính cách có thể đo lường được những hậu quả tiêu cực và thích nghi với hoàn cảnh kém và nơi làm việc có thể tạo sự đe dọa như là một giám sát hay chửi rủa hay đang mất khách hàng lớn. Phát triển nguồn lực và giảm thiểu các tiềm ẩn là chiến lược phát triển các biện pháp thích nghi (Masten, 2001).
Trong tâm lý học, khả năng thích nghi đề cập đến cách thức của một cá nhân khi đối phó với căng thẳng và nghịch cảnh. Khả năng này thể hiện ở chỗ khi gặp khó khăn, thách thức, họ có thể ứng phó với nó, và có thể xem nó cũng như bình thường, thậm chí trong một số trường hợp, nó có thể khiến họ tích lũy kinh nghiệm, và ứng phó tốt hơn với những khó khăn trong tương lai. 123doc 10 Áp dụng yếu tố thích nghi đối với nhân viên ngành dầu khí, khả năng thích nghi có thể được đặc trưng bằng cách thức mà cá nhân đối mặt với môi trường làm việc khắc nghiệt, đa văn hóa nhưng luôn thích ứng với hoàn cảnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra các thành phần của yếu tố tâm lý, bao gồm: tự tin, lạc quan, hy vọng và thích nghi có tác động tới chất lượng đời sống công việc.
Chẳng hạn, sự tự tin được chứng minh có tác động đến kết quả công việc (Stajkovic và Luthans 1998, Legal và Meyer 2009). Nghiên cứu của Youssef và Luthans 2007 cho thấy sự lạc quan của người lao động có liên quan đến kết quả công việc, sự thỏa mãn, và niềm vui của nhân viên. Hy vọng có mối liên quan đến kết quả, sự thỏa mãn, niềm vui và sự gắn bó của nhân viên (Youssef và Luthans 2007). Khả năng thích nghi cũng có một mối quan hệ tích cực với kết quả công việc của nhân viên (Luthans et al.
2005) và niềm vui, sự thỏa mãn của nhân viên (Youssef và Luthans 2007). Nói chung, yếu tố tâm lý tổng thể đều có mối quan hệ tương quan đến về hiệu quả của nhân viên và chất lượng đời sống công việc của nhân viên. Và, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2011) chứng minh rằng yếu tố tâm lý tổng thể có tác động tích cực đến chất lượng đời sống công việc và kết quả công việc.2 Chất lượng đời sống công việc: Theo Sirgy 2001 cho rằng chất lượng đời sống công việc được định nghĩa là sự thõa mãn của nhân viên về nhiều nhu cầu thông qua các nguồn lực, hoạt động và kết quả từ sự tham gia vào môi trường làm việc. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nhân viên với chất lượng đời sống công việc cao có khuynh hướng khẳng định bản thân cao với những tổ chức của họ, khả năng thỏa mãn công việc, thành quả công việc và khả năng lưu chuyển công việc ở mức thấp (Efraty, Sirgy & Claiborne, 1991).