Chương I: Cơ sở lí luận về sự hài lòng công việc Chương 2: Mô hình và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và kiến nghị 8. Tổng quan đề tài nghiên cứu Để có một cái nhìn tổng thể về hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này, những nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên được trình bày tóm tắt qua một số khảo sát, nghiên cứu, tài liệu có liên quan: a. Chỉ số mô tả công việc JDI của Simith, Kendall va Hulin (1969) Smith, Kendall và Hulin của trường Đại học Cornell đã xây dựng chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index) và được đánh giá rất cao trong lý thuyết và thực tiễn, được thê hiện qua 05 thang đo nhân tố như sau: (a) Tính chất công. việc; (b) Thanh toán tiền lương; (e) Thăng tiến; (d) Giám sát; (e) Đồng nghiệp.
Giá trị và độ tin cậy của JIDI được đánh giá rất cao trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết (Mayer và ctg, 1995). Price (1997) cho rằng JDI là công cụ nên chọn lựa cho các nghiên cứu đo lường về mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc. Chỉ trong hai mươi năm cuối thế kỷ 20, JDI được sử dụng trong hơn 600 nghiên cứu đã được xuất bản (Ajimi, 2001) b. Mô hình nghiên cứu của Mosammod Mahamuda Parvin (2011) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên trong lĩnh vực dược phẩm.
Tác giả đã có gắng đẻ đánh giá sự hài lòng công việc của nhân viên trong các Công ty dược phẩm khác nhau. Nghiên cứu tập trung vào tầm quan trọng tương đối của các yếu tố: điều kiện làm tiền lương và thăng tiến, công bằng, công việc an toàn, mối quan hệ với đồng. nghiệp, mối quan hệ với cắp trên ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc và tác động của chúng vào việc làm hài lòng tổng thể của người lao động. Nghiên cứu của Alamdar Hussain Khan & cộng sự (2011) Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tìm ra các yếu tố ảnh hưởng quyết định.
đến sự hài lòng trong công việc và tác động của sự hài lòng công việc đến nhân viên hoạt động trong lĩnh vực y học tự trị trong các tô chức của sở y tế Pakistan. Tác giả đã nghiên cứu các khía cạnh ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc chẳng hạn như việc trả lương, thăng tiến, an toàn trong công vi điều kiện làm việc, tự chủ trong công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ với người quản lý, và tính chất công việc, với cỡ mẫu 200. 4L Nghiên cứu của Alamdar Hussain Khan & cộng sự (2011) Mehmood và các công sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên trong ngành công nghiệp dich vu 6 Pakistan với mẫu là 324. Kết quả cho thấy các biến độc lập như tiền lương, phúc lợi, thăng tiến, điều kiện làm việc và quyền tự chủ ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên.
Trong đó, yếu tố môi trường làm việc được đánh giá cao nhất. Nghiên cứu của PGS.TS Trần Kim Dung (2005) Ở Việt Nam, nghiên cứu của PGS.TS Trần Kim Dung (2005) về sự hài lòng công việc trong điều kiện của Việt Nam trên cơ sở sử dụng Chỉ số mô tả công việc (JDI) theo cách tiếp cận của Smith, Kendall và Hulin (1969). Tuy nhiên, ngoài năm nhân tố được đề nghị trong JDI, tác giả đã đưa thêm hai nhân tố nữa là phúc lợi Doanh nghiệp và điều kiện làm việc đề phù hợp với tình hình cụ thể của Việt nam. CHUONG 1 CO SO Li LUAN VE SU' HAI LÒNG CÔNG VIỆC Trong chương một này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về sự hài lòng công việc qua những kết quả của các nhà nghiên cứu trước.
Chương này gồm các phần: Lý thuyết về sự hài lòng công việc của nhân viên, một số lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu, các nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng công việc của nhân viên của các nhà nghiên cứu khác, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên; từ đó rút ra những kết luận phục vụ cho việc xây dựng thiết kế nghiên cứu về sự hài lòng công việc của nhân viên. TONG QUAN VE SU HAI LONG CONG VIỆC VÀ CÁC YEU TO ANH HUONG DEN SU HAI LONG CONG VIEC Các nhà nghiên cứu cho rằng nếu như nhân viên hài lòng với công việc thì năng suất làm việc sẽ tăng lên, cho dù giữa sự hài lòng của nhân viên và năng suất lam việc chỉ có mối tương quan ở mức trung bình (IafTaldano và Muchinsky, 1985). Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên tại nơi làm việc. Sự hài lòng này được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: hai lòng chung đối với công việc và hài lòng với từng thành phần của công việc.
Định nghĩa vẻ sự hài lòng chung trong công việc Theo Vroom (1964) [23] hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Theo Weiss (1967) [24] định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Theo Løcke (1976) [17] thì cho rằng hài lòng trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. Quinn va Staines (1979) [19] cho rằng hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc.
Với Specfor (1997) [22] sự hài lòng trong công việc đơn giả là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến thái độ. Quan diém ciia Ellickson va Logsdon (2001) [13] thì cho rằng sự hài lòng trong công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc đáp ứng được nhu cẳu, giá trị và tính cách của người lao động thì mức độ hài lòng công việc càng cao.
Còn Kreimer và Kinicki (2007) [16] sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc đó đối với công việc của mình. Với các quan điểm về sự hài lòng ở trên, định nghĩa về sự hài lòng của 'Weiss là đầy đủ và bao quát hơn cả, nên luận văn sẽ sử dụng định nghĩa này cho nghiên cứu của mình. Định nghĩa về sự hài lòng liên quan đến các thành phân công việc Theo Smith, Kendal và Huilin (1969) [21], sự hài lòng với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghỉ nhận của nhân viên về khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc, cơ hội đào. tạo và thăng tí , lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương) của họ.
Còn Schemerhon (1993), Kreitner và Kinicki (2007) [16] định nghĩa sự hài lòng trong công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc như: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, môi quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất, của môi trường làm việc cũng như cơ cấu tô chức 10 Các cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc, tuy nhiên sử dụng cách tiếp cận theo thành phần của công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viện đánh giá cao. nhất hoặc kém nhất. Do đó, khi nghiên cứu cần kết hợp việc xem xét cả mức độ hài lòng chung lẫn sy hai lòng từng khía cạnh công việc 12. CÁC HỌC THUYET VE CONG VIEC VA HAI LONG CONG VIEC 1.
Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) [14] “Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiền và sự tiến bộ, và triển vọng của sự phát Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự hài lòng trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự hài lòng. Các nhân tố duy trì gồm chính sách Công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bồng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc. Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bắt mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất man, (Efere, P 2005).
Như vay, Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố này và cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự hài lòng cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tó duy trì sẽ dẫn đến sự bắt mãn của nhân viên. Nhân viên bắt Nhântó | Nhânviên - Nhân tổ Nhân viên bắt mãn và không không còn bắt mãn và không có động lực — *Ì mãn nhưng —————| có động lực duyti | khôngcodộng | đôngviên Hình 1. Thuyết hai nhân tố của Herzberg Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết quả không ủng hộ sự phân chia hai nhóm nhân tố như trên của #Jerberg cũng như bác bỏ việc cho rằng các 1 nhân tố duy trì không mang lại sự hài lòng trong công việc. Thực tế cho thấy rằng các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự hài lòng trong việc.
Tuy nhiên, thông qua lý thuyết của #7ezberg ta cũng có thể thấy được tầm quan trọng của nhân tố động viên trong việc mang lại sự hài lòng trong công việc cũng như tác động của các nhân tố duy trì trong việc dẫn đến sự bắt mãn của nhân viên 1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) [18] Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người có sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mã thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đây nữa. Thuyết nhu cầu của Maslow sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao.