CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu nước ngoài Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) là vấn đề được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu với các cách tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau. Các học giả thường tập trung vào các hướng nghiên cứu, cụ thể: 1.
Các nghiên cứu về quản trị chất lượng toàn diện Nghiên cứu của Rahman và Bullock (2005) đã đi sâu nghiên cứu chi tiết vào các thành phần của quản trị chất lượng toàn diện (TQM). Họ nhận định rằng TQM có thể được chia thành 2 phần gồm TQM cứng và TQM mềm. TQM cứng mô tả các công cụ và kỹ thuật của TQM như biểu đồ kiểm soát, biểu đồ Pareto, kiểm soát quy trình bằng thống kê… Trong khi đó, TQM mềm liên quan đến đào tạo nhân lực góp phần phát triển nguồn nhân lực của tổ chức áp dụng TQM. TQM cứng và TQM mềm có tác động không giống nhau đến hiệu quả của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Talib và Rahman (2010) đã chỉ ra rằng việc triển khai thành công quản trị chất lượng toàn diện (TQM) phải được liên kết với các khía cạnh quan trọng. Trên cơ sở đánh giá những tài liệu sẵn có về TQM, các tác giả đã phác họa được 9 khía cạnh quan trọng của TQM trong các doanh nghiệp dịch vụ: (1) sự lãnh đạo của quản lý cấp cao (bao gồm phong cách lãnh đạo, cam kết quản lý và hỗ trợ quản lý); (2) tập trung vào khách hàng (bao gồm sự hài lòng của khách hàng và định hướng vào khách hàng); (3) đào tạo; (4) Cải tiến và đổi mới liên tục; (5) quản lý nhà cung cấp (bao gồm mối quan hệ nhà cung cấp, chất lượng nhà cung cấp và quan hệ đối tác nhà cung cấp); (6) sự tham gia của nhân viên; (7) chất lượng thông tin và đo lường hiệu quả; (8) chuẩn đối sánh (benchmarking); (9) khích lệ nhân viên (bao gồm đánh giá nhân viên, khen thưởng và sự công nhận). 6 Nghiên cứu của Lam và cộng sự (2012) đã đưa ra một bức tranh tổng quan về mối quan hệ 3 chiều giữa quản trị chất lượng toàn diện (TQM), định hướng học tập và hiệu quả thị trường của các doanh nghiệp dịch vụ tại Malaysia. Trong đó, TQM được giả định là một nền tảng để nâng cao cả định hướng học tập và hiệu quả thị trường của doanh nghiệp.
Bằng chứng khảo sát của nghiên cứu đã xác định rằng việc áp dụng TQM trong các doanh nghiệp dịch vụ có tác động tích cực và đáng kể đến định hướng học tập và hiệu quả thị trường. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy định hướng học tập không có bất kỳ mối tương quan nào với hiệu quả thị trường, ngụ ý rằng định hướng học tập không mang lại nhiều cơ hội cho một doanh nghiệp dịch vụ để đạt được hiệu quả thị trường cao hơn. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là việc áp dụng nghiên cứu cắt ngang để đo lường định hướng học tập có sự biến thiên theo thời gian trong một doanh nghiệp dịch vụ là không phù hợp, dẫn đến kết quả nghiên cứu không đạt được như kỳ vọng. Nghiên cứu của Juneja và cộng sự (2011) đã đưa ra một đánh giá lý thuyết nhấn mạnh đến sự thống trị của chất lượng dịch vụ và khả năng thích ứng của quản trị chất lượng toàn diện (TQM) trong lĩnh vực dịch vụ.
Họ giải thích rằng xã hội càng phát triển về giáo dục, văn hóa và mức sống dẫn đến nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ càng tăng. Đó chính là nguyên nhân cốt lõi, khiến các doanh nghiệp dịch vụ khám phá và vận dụng quản trị chất lượng toàn diện (TQM) như một công cụ để thúc đẩy cải thiện chất lượng trong tất cả các hoạt động của họ. Nghiên cứu của Pradhan (2014) đã nhận định chất lượng tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu và sở thích của khách hàng. Trên cơ sở lược khảo các tài liệu liên quan đến TQM trong các thư viện học thuật để nhằm mục đích tập trung vào cách họ có thể cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng tốt hơn cho khách hàng.
Tác giả đã lập luận rằng đối mặt với sự thay đổi liên tục đang diễn ra trong lĩnh vực thư viện và dịch vụ thông tin, nên các thư viện học thuật phải cung cấp tài liệu học tập ở mọi định dạng, ví dụ bản in (sách và Tạp chí, báo cáo) cũng như phương tiện điện tử (thông qua các dịch vụ thông tin nối mạng kỹ thuật số). Từ đó, nghiên cứu này đã cố gắng kiểm tra xem làm thế nào mà các thư viện học thuật có thể cung cấp dịch vụ có 7 chất lượng cho khách hàng của họ với nguồn lực hạn chế bằng cách áp dụng công cụ quản trị chất lượng toàn diện (TQM). Nghiên cứu của Modgil và Sharma (2017) đã khẳng định thực tiễn quản trị chất lượng toàn diện được cấu thành bởi 2 phần cứng và mềm. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện rằng trong lĩnh vực dược phẩm, cần chú trọng đến khía cạnh “đào tạo và phát triển” của TQM mềm hơn do lĩnh vực được quản lý bởi các cơ quan quản lý dược phẩm lớn từ nước ngoài.
Các tác giả cũng đã làm sáng tỏ rằng TQM mềm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của chuỗi cung ứng, nhưng TQM cứng có tác động đến hiệu quả chuỗi cung ứng lớn hơn so với TQM mềm và TQM mềm có tác động đáng kể đến hiệu quả chuỗi cung ứng với TQM cứng giữ vai trò trung gian. Tuy nhiên, thu thập dữ liệu là hạn chế lớn nhất của nghiên cứu này vì chỉ được thực hiện từ các giám đốc điều hành chất lượng và quản lý chuỗi cung ứng, do đó có thể dẫn đến sai lệch thông tin do nhận định thiếu tính khách quan. Nghiên cứu của Ali và cộng sự (2022) đã kiểm tra thực nghiệm tác động của TQM đa hướng (TQM cứng và TQM mềm) đối với sự sẵn sàng cho ngành công nghiệp 4.0 trong các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ của Malaysia. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy TQM mềm và cứng đã hỗ trợ sẵn sàng cho ngành công nghiệp 4.
Hơn nữa, kết quả đã nhấn mạnh rằng TQM cứng có vai trò trung gian giữa TQM mềm và sự sẵn sàng cho ngành công nghiệp 4. Ngoài ra, kết quả mạng thần kinh nhân tạo (ANN) của nghiên cứu này đã khẳng định khía cạnh “tập trung vào khách hàng (customer focus)” được coi là yếu tố TQM quan trọng đối với sự sẵn sàng cho nhà quản lý trong ngành công nghiệp 4.0; “công nghệ sản xuất tiên tiến (advanced manufacturing technology)” để sẵn sàng vận hành và “cam kết của lãnh đạo (top management commitment)” cho sự sẵn sàng về công nghệ. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị chất lượng toàn diện đến hiệu quả tổ chức Nghiên cứu của Zu (2008) đã chỉ ra 2 thành phần cấu thành thực tiễn quản trị chất lượng (QM practices): (i) quản trị chất lượng cứng (infrastructure QM) bao gồm hỗ trợ của lãnh đạo, mối quan hệ khách hàng, mối quan hệ nhà cung cấp và quản lý lực lượng lao động; (ii) quản trị chất lượng mềm (core QM) gồm thông tin chất lượng, 8 thiết kế sản phẩm/dịch vụ và quản lý quá trình. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc, tác giả đã cho thấy quản trị chất lượng mềm có tác động trực tiếp đến hiệu quả chất lượng và quản trị chất lượng cứng cũng góp phần vào hiệu quả chất lượng bằng cách hỗ trợ quản trị chất lượng mềm.
Nghiên cứu của Fotopoulos và Psomas (2010) đã khám phá mối quan hệ giữa các yếu tố quản trị chất lượng toàn diện (TQM) và hiệu quả tổ chức. Các yếu tố TQM được tiết lộ bởi nghiên cứu gồm: quản lý của lãnh đạo, sự tham gia của nhân viên vào hệ thống quản lý chất lượng, tập trung vào khách hàng, chất lượng dữ liệu và quy trình cũng như triển khai các công cụ và kỹ thuật chất lượng. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh các yếu tố trên có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh: thủ tục nội bộ, sự hài lòng của khách hàng, thị phần, môi trường tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tạo thành bằng chứng thực nghiệm hợp lệ đối với những lĩnh vực riêng biệt.
Một mặt, do có sự tham gia của các doanh nghiệp đến từ tất cả các lĩnh vực. Mặt khác, nghiên cứu được thực hiện trên một quốc gia cụ thể vì vậy kết quả nghiên cứu không đảm bảo tính khách quan đối với các quốc gia khác trên thế giới. Nghiên cứu của Zakuan và cộng sự (2010) đã xây dựng mô hình cấu trúc về triển khai quản trị chất lượng toàn diện (TQM) liên quan đến hiệu quả tổ chức. Các giả đã xem xét các tài liệu về TQM và xây dựng bài nghiên cứu theo 2 chủ đề chính: (1) sự phát triển của TQM được coi là một tập hợp các thực tiễn gồm: phong cách lãnh đạo, sự tập trung và hài lòng của khách hàng, thông tin chất lượng và phân tích, phát triển nguồn nhân lực, quản lý kế hoạch chiến lược, quản lý chất lượng nhà cung ứng, các kết quả chất lượng, đảm bảo chất lượng; và (2) tác động của nó đối với hiệu quả của tổ chức được đo lường thông qua 2 giác độ: (i) mức độ hài lòng bao gồm sự hài lòng của nhân viên và sự hài lòng của khách hàng; (ii) các kết quả kinh doanh gồm năng suất, số lượng sản phẩm mới thành công, hiệu quả chi phí và lợi nhuận.
Nghiên cứu của Roghanian và cộng sự (2012) đã xem xét quản trị chất lượng toàn diện (TQM) và bảo trì năng suất toàn diện (TPM) là những công cụ để cải thiện năng suất thông qua các thành phần quản lý, hiệu suất và hiệu quả. Các tác giả đã chỉ ra rằng, kết quả của việc thực hiện TQM và TPM được mô tả thông qua các khía 9 cạnh: giảm giá, cải thiện chất lượng, nâng cao sự hài lòng của nhân viên và khách hàng, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và gia tăng lợi nhuận dẫn đến cải thiện hiệu quả và hiệu suất.