CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài Trong kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên gay gắt. Nhân tố làm nên sự thành công của mỗi công ty, được thực tế kiểm nghiệm, là nhân tố con người (Phạm Thanh Tùng, 2022). Con người muốn lao động với hiệu suất cao, có tính sáng tạo cần có động lực thúc đẩy, có động cơ rõ ràng. Nhiều công ty nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực trong việc tạo ra ưu thế cạnh tranh trên thương trường và mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh đã chú trọng đến chiến lược nhân sự, tuyển chọn nhân viên giỏi bằng việc đưa các chế độ ưu đãi hấp dẫn như mức lương cao, điều kiện, môi trường làm việc tốt… Tuyển chọn người lao động giỏi về làm việc cho công ty đã khó nhưng giữ chân họ và phát huy tối đa khả năng lao động, sáng tạo của họ, cống hiến cho công ty lại càng khó khăn hơn nhiều bởi một số lý do sau: thứ nhất, các công ty đối thủ cũng muốn tuyển mộ những nhân viên giỏi này về làm việc; thứ hai, tính di động của những nhân viên này rất cao bởi họ muốn thử thách trong công việc và nâng cao thu nhập; thứ ba, giữ chân những nhân viên giỏi để họ cống hiến cho công ty đòi hỏi lãnh đạo công ty phải nắm bắt được nhu cầu, tạo động lực làm việc cho họ thông qua các giải pháp chính sách đãi ngộ cụ thể.
Trong tất cả các chức năng của nhà quản lý thì tạo động lực cho người lao động được cho là phức tạp nhất. Điều này bởi vì, một phần bởi thực tế là các nhân tố tạo động lực cho người lao động thay đổi thường xuyên. Trong điều kiện kinh doanh có tính cạnh tranh cao của ngành viễn thông, yêu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, khắt khe thì việc nâng cao chất lượng phục vụ, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là nhiệm vụ mang tính sống còn, quyết định sự tồn tại, phát triển của Trung tâm Kinh doanh VNPT - Đồng Tháp. Bên cạnh đó, với 60% lao động làm công tác kinh doanh, bán hàng, đơn vị cần có những cơ chế tạo động lực đủ mạnh để khuyến khích người lao động tích cực tìm kiếm khách hàng.
Để đáp ứng yêu cầu đó bên cạnh năng lực của lãnh đạo trong việc hoạch định chiến lược phát 1 triển đòi hỏi mỗi cán bộ, nhân viên luôn hết mình trong công việc, có động lực làm việc rõ ràng, gắn kết lợi ích cá nhân với lợi ích chung của đơn vị. Đây là lý do tôi chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên Trung tâm kinh doanh VNPT - Đồng Tháp” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan 1.1 Các nghiên cứu quốc tế Boeve (2007) đã tiến hành cuộc nghiên cứu các nhân tố tạo động lực của các giáo viên Y khoa tại Mỹ vận dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959). Kết quả có hai nhóm nhân tố tạo động lực gồm: nhóm nhân tố bên trong là bản chất công việc, đào tạo, thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài là lương, cấp trên và đồng nghiệp. Mô hình nghiên cứu này được thể hiện như sau: Hình 1.
1: Mô hình nghiên cứu của Boeve (2007) Kết quả nghiên cứu của Boeve (2007) chỉ ra rằng nhân tố bản chất công việc, đồng nghiệp, đào tạo và thăng tiến có ảnh hưởng mạnh nhất đến động lực làm việc của các giáo viên trong đó nhân tố bản chất công việc có tác động đứng hàng thứ nhất trong các nhân tố. Nhân tố cấp trên và lương có ảnh hưởng yếu hơn. Kết quả kiểm định cũng chỉ ra rằng đối với giáo viên có thâm niên công tác lâu năm thì càng hài lòng với công việc nhiều hơn. 2 Một nghiên cứu khác của Brooks (2007) đã thực hiện khảo sát thông qua phương pháp phỏng vấn 181 nhân viên đang làm việc tại các công ty khác nhau trên toàn nước Mỹ với 53 câu hỏi.
Mô hình nghiên cứu mà tác giả đề xuất cụ thể: Hình 1. 2: Mô hình nghiên cứu của Brooks (2007) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến động lực làm việc của nhân viên bao gồm: công tác đào tạo, cấp trên hỗ trợ, đóng góp vào tổ chức, sự công nhận và đặt mục tiêu rõ ràng. Kết quả là việc quy mô khảo sát nhỏ, môi trường làm việc và công việc của nhân viên ở các đơn vị là khác nhau nên kết quả phần nào chưa phản ảnh chính xác của mục tiêu nghiên cứu. Hai tác giả Teck-Hong và Waheed (2011) cũng đã đưa ra mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên bán hàng tại Malaisia vận dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959).
Kết luận rằng nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên là điều kiện làm việc, sự công nhận của tổ chức. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động lực cho nhân viên bán hàng. Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng thang đo ngắn, ít biến quan sát để phân tích các nhân tố; dẫn đến việc phân tích không đầy đủ các khía cạnh của nhân tố, kết quả nghiên cứu có thể không chính xác. 3: Mô hình nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) Kukanja (2013) cho rằng tiền lương là yếu tố tác động mạnh nhất, các nhân tố phúc lợi, thời gian làm việc và đào tạo có ảnh hưởng ít hơn.
Điều này đã được chứng minh qua nghiên cứu đối với 191 nhân viên phục vụ trong ngành du lịch tại Slovenia. Mô hình nghiên cứu mà tác giả đề xuất bao gồm các nhân tố giả định có ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên du lịch tại các cơ sở ven biển bao gồm: Cơ hội thăng tiến, lương và phúc lợi, công tác đào tạo, môi trường làm việc, thời gian làm việc. Barzoki và cộng sự (2012) cũng đã đưa ra mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên vận dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959). Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng nhân tố tác động mạnh nhất đến động lực làm việc của người lao động là điều kiện làm việc, thu nhập và tiền lương.
Nhân tố cuộc sống cá nhân có tác động ít nhất. Kết quả này được các tác giả đưa ra mô hình trong một nghiên cứu bao gồm các nhân tố: mối quan hệ đồng nghiệp, mối quan hệ cấp trên, chính sách của công ty, thu nhập và tiền lương, an toàn nghề nghiệp, điều kiện làm việc và cuộc sống cá nhân. 4: Mô hình nghiên cứu của Barzoki và cộng sự (2012) Gupta, Subramanian (2014), đã thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu về một Công ty Tư vấn Xây dựng tại Việt Nam và mục đích nghiên cứu là tìm ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên trong công ty. Một cuộc khảo sát bằng câu hỏi được thực hiện với 135 nhân viên của công ty để phân tích nhận thức của họ về động lực tại nơi làm việc và cũng điều tra ý kiến của các điều phối viên của từng bộ phận và cả với Tổng Giám đốc về vấn đề tương tự.
Hai phương pháp đã được thực hiện trong nghiên cứu này: định tính và định lượng. Phương pháp đầu tiên (định tính) đưa ra cái nhìn tổng quát về công ty và giúp phát hiện ra vấn đề. Phương pháp thứ hai (định lượng) đánh giá sâu vấn đề với mục tiêu cuối cùng là đề xuất một số khuyến nghị. Kết quả nghiên cứu nhận thấy rằng công ty đang gặp phải một số vấn đề liên quan đến việc nhân viên thiếu động lực và thiếu nhiệt tình làm việc.
Nguyên nhân chính được xác định: đào tạo, khối lượng công việc và tiền lương là những yếu tố chính ảnh hưởng đến động lực làm việc. Phân tích kết quả thấy rằng đặc biệt là những nhân viên trẻ đang gặp rất nhiều vấn đề. Rất khó để họ cân bằng các mục tiêu cá nhân và nhu cầu của họ với khối lượng công việc. Một yếu tố quan trọng khác là các chương trình đào tạo, bởi vì những nhân viên trẻ cảm thấy không được công ty hỗ trợ về kỹ năng làm việc.
Yếu tố thứ ba là tiền lương, bằng cách nào đó không thể đáp ứng được kỳ vọng của họ. 5 Baljoon và cộng sự (2019) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của các y tá tại một bệnh viện chính phủ ở Ả Rập Saudi. Nghiên cứu này được thực hiện trên 280 nhân viên có kinh nghiệm làm việc ít nhất 1 năm. Kết quả cho thấy mức độ động lực làm việc của y tá bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố cá nhân và tổ chức.
Nghiên cứu này tiết lộ rằng có một mối quan hệ tích cực giữa tiền lương, thăng tiến, giám sát, phúc lợi phụ, phần thưởng ngẫu nhiên, đồng nghiệp, tính chất công việc, giao tiếp và điều kiện làm việc. Kết luận rằng cần tăng cường và thúc đẩy các chính sách tạo động lực bằng cách cung cấp mức thù lao thỏa đáng, lợi ích công bằng, tăng cơ hội thăng tiến. Ngoài ra, cần phải tạo ra môi trường làm việc lành mạnh, hỗ trợ mối quan hệ đồng nghiệp. Mesaengpan và cộng sự (2019) nghiên cứu động cơ làm việc của nhân viên tại Bangkok Lab and Cosmetic Company.
Các mẫu là 230 nhân viên tại Bangkok Lab and Cosmetic Company sử dụng phương pháp của Taro Yamane và được chọn bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Công cụ thu thập dữ liệu là bảng câu hỏi được kiểm chứng bởi 3 chuyên gia, với độ nhất quán là 0,91. Số liệu thống kê bao gồm tần suất, tỷ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn, thử nghiệm T – mẫu độc lập, ANOVA một chiều, phương pháp Scheffe để so sánh đối sánh cặp và sự khác biệt nhỏ nhất đáng kể của Fisher. Qua nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Bangkok Lab and Cosmetic Company theo thứ tự tăng dần đến giảm dần, là mối quan hệ với cấp trên, chính sách quản lý, mối quan hệ với đồng nghiệp, trách nhiệm, công việc an ninh, tiến độ công việc, và tiền lương và phúc lợi.
Hơn nữa, nhân viên có giới tính, trình độ học vấn và mức lương hàng tháng khác nhau tại Bangkok Lab and Cosmetic Company Limited không có tác động đến động lực làm việc.