Chương 1: Tổng quan lý thuyết. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương 4: Hàm ý chính sách 7.
Tong quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu của Spector (JSS — Job Satisfaction Survey) (1985): Spector (1997) đã xây dựng một mô hình riêng cho các nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ gồm 9 yếu tố đánh giá mức độ hài lòng và thái độ như: (1) Lương, (2) Cơ hội thăng tiến, (3) Điều kiện làm việc, (4) Sự giám sát, (5) Đồng nghiệp, (6) Yêu thích công việc, (7) Giao tiếp, (8) Phần thưởng bắt ngờ, (9) Phúc lợi. Nó được phát triển và ứng dụng chủ yếu ở phòng nhân sự của các tổ chức dịch vụ và các tổ chức phi lợi nhuận. Nghiên cứu của Smith, Kendall và Hulin (1969): về xây dựng các chỉ số mô tả công việc (IDI) gồm có 5 yếu tố: (1) Bản chất công việc, (2) Cơ hội dao tạo và thăng tiến, (3) Thu nhập, (4) Lãnh đạo, (S) Đồng nghiệp và 72 thang đo để đánh giá mức độ hài lòng công việc. Nghiên cứu của Mosammod Mahamuda Parvin (2011): đánh giá sự hài lòng công việc của nhân viên trong các công ty dược phẩm khác nhau.
Đồng thời nghiên cứu cũng điều tra tác động của các yếu tố cá nhân đến với sự hài lòng công việc. Tác giả đã chứng minh rằng điều #iện làm việc, công bằng, tiền lương và thăng tiến là những yếu tô quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc. Nghiên cứu của TS. Trần Kim Dung (2005): thực hiện nghiên cứu đo lường mức độ hài lòng công việc trong điều kiện của Việt Nam bằng cách sử.
dụng Chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith. Kim Dung đã đưa thêm hai yếu tố nữa là Phúc lợi công ty và Điêu kiện làm việc đễ phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam. CHUONG 1 TONG QUAN LY THUYET 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC 1.1 Khái niệm về sự hài lòng công việc Có rất nhiều các định nghĩa vẻ sự hài lòng công việc. Một trong những định nghĩa đầu tiên về sự hài lòng công việc và được trích dẫn nhiều nhất có thể kể đến là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và đồng sự, 1960).
Tác giả cho rằng, việc đo lường sự hài lòng công việc bằng hai cách: (1) do lường sự hải lòng công việc nói chung va (2) đo lường sự hải lòng công việc ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc. cho rằng sự hài lòng công việc nói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự hải lòng của các khía cạnh khác nhau, mà sự hài lòng công việc nói chung có thể được xem như một biến riêng. Theo Spector (1997) sự hải lòng công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung nên nó là một biến về thái độ.
‘Theo Ellickson va Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ hài lòng công việc càng cao. Sehemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự hài lòng công việc như là sự phản ứng về mặt tỉnh cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Tác giả nhắn mạnh các nguyên nhân của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường lam viée cũng như cơ cấu của tô chức.
Theo Kreitner và Kinieki (2007), sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tỉnh cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. Như vậy có rất nhiều các định nghĩa khác nhau vẻ sự hài lòng công việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có hài lòng công việc thì người đó sẽ có cảm giác thoải mái, dễ chịu đối với công việc của mình. Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự hài lòng công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ 1.
Lý thuyết về sự hài lòng công vii Hai lòng công việc bắt nguồn từ tâm lý tổ chức và lý thuyết động viên. Theo Green (2000), các lý thuyết kinh điển vẺ hài lòng công việc có thể phân theo ba nhóm chính: Lý thuyết nội dưng với hai lý thuyết nền tảng là thang nhu cầu của A.Maslow (1954) và lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1966), chỉ ra rằng việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sẽ tạo ra sự hài lòng công việc. Lý thuyết quá trình (như lý thuyết của Vroom) giải thích sự hài lòng đối với công việc là sự tác động của ba mối quan hệ: (1) kỳ vọng, (2) giá trị và (3) mong muốn. Lý thuyết hoàn cảnh lại cho rằng sự hài lòng với công việc là tác đông, qua lại của ba biến: (1) cá nhân, (2) công việc (job) và (3) tổ chức.
Nghiên cứu sự hài lòng công việc thường được các nhà nghiên cứu gắn liền với các lý thuyết về động viên và sự thỏa mãn công việc. Sau đây là tóm tắt một số lý thuyết đáng lưu ý. Thuyết hai nhân tố của Her:berg (1959) “Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ và triển vọng của sự phát triển. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự hai long trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự hải lòng.
Các nhân tổ duy trì gồm chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo công việc. Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn nào trong công việc, người lại sẽ dẫn đến sự bất mãn (Efere, 2005). Nhu vay, Herzberg da tach biệt tương đối hai nhóm nhân tố này va cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự hài lòng cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết quả không ủng hộ sự phân chia hai nhóm nhân tố như trên của Herzberg cũng như bác bỏ việc cho rằng các nhân tố duy trì không mang lại sự hài lòng trong công việc (Kreitner & Kinicki, 2007).
Thực tế cho thấy rằng các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự hài lòng trong công việc. Tuy nhiên, thông qua lý thuyết của Herzberg ta cũng có thể thấy được tầm quan trọng của nhân tố động viên trong việc mang lại sự hải lòng trong công việc cũng như tác động của các nhân tố duy trì trong việc dẫn đến sự bắt mãn của nhân viên. Nhân Nhân viên Nhân viên viênbất [Nhântốduytrì| khôngcòn |Nhântốđộngviên| không còn mãn và bat man bat man va không có nhưng không, có động động lực có động lực lực Hình 1. Thuyết hai nhân tố của Herzberg' b.
Thuyết cắp bậc nhu cầu của Maslow (1943). Nói đến sự hài lòng nói chung người ta thường nhắc đến lý thuyết nhu. cầu cấp bậc của Maslow (1943). Theo ông nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện.
Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này, ta có thể thấy nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào đề từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ. Theo Maslow, cá nhân sẵn sàng hành động theo cắp bậc nhu cầu tăng dần. _ Ah mm SN AE 4 Hinh 1.2: M6 hinh Maslow “Trong đó: Cấp độ 1: Nhu cầu cơ bản/sinh lý bao gồm các nhu cầu về ăn, uống, nhà ở thỏa mãn sinh lý các nhu cầu vật chất khác.
Cấp độ 2: Nhu cầu an toàn là nhu cầu về an ninh và được bảo vệ khỏi những tổn hại vật chất và tỉnh thần cũng như đảm bảo các nhu cầu vật chất tiếp tục được thỏa mãn. Cấp độ 3: Nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình cảm, sự chấp nhận và tính bằng hữu. Cấp độ 4: Nhu cầu được tôn trọng là các yếu tố được tôn trọng từ bên trong như tự trọng, quyền tự chủ, những thành tựu và các yếu tố tôn trọng từ bên ngoài như địa vị, sự công nhận. Cấp độ 5: Nhu cầu tự khăng định là việc phát huy, đạt được những cái mình có thể và sự thỏa mãn về bản thân.
Năm cấp độ nhu cầu của con người này được miêu tả thành hai nhóm là nhu cầu cấp thấp (cấp độ 1 và 2) và nhu cầu cấp cao (cấp 3, 4 và 5). Sự khác nhau giữa hai nhóm này là dựa trên giả thuyết cho rằng nhu cầu cấp cao thường được thỏa mãn từ bên trong, trong khi các nhu cầu cấp thấp phần lớn được thỏa mãn từ bên ngoài. Thuyết nhu cầu của Maslow được công nhận rộng rãi và được áp dụng trong thực tế suốt các thập niên 1960 đến 1970 (Robins et al, 2002). Điểm yếu của lý thuyết Maslow là không đưa ra được các bằng chứng thực nghiệm cho lý thuyết và một số nghiên cứu để xác nhận giá trị của nó cũng không thành công (Robins et al, 2002).
Thuyết ERG của Alderfer (1969). Nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết nhu cầu cầu cấp bậc của Maslow, tuy nhiên có một số khác biệt như sau: ~_ Số lượng nhu cầu được rút gọn còn 3 thay vì 5 nhu cầu đó là: nhu cầu tén tai (existence need), nhu cau lién déi (relatedness need) va nhu cầu phát triển (growth need). ~_ Khác với Maslow, Alderfer cho rằng có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm (Maslow cho rằng chỉ có một nhu cầu xuất hiện ở một thời điểm nhất định).