Chương 1 - Giới thiệu đề tài: Lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được trình bày trong chương này. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này trình bày cơ sở lý thuyết, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu định tính, hiệu chỉnh thang đo, hoàn thiện bảng câu hỏi phục vụ cho nghiên cứu định lượng, mô tả mẫu nghiên cứu. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày các bước phân tích dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu.
Chương 5 - Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt kết quả nghiên cứu, trình bày các đóng góp của đề tài, đưa ra kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 tập trung vào giới thiệu một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đồng thời tóm tắt tổng quát các kết quả nghiên cứu trước đó được xem là có liên quan đến sự hài lòng trong công việc, gắn bó với tổ chức và ý định nghỉ việc. Từ đó, đưa ra mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết cho mô hình. Định hướng mục tiêu (Goal orientation): Khái niệm về định hướng mục tiêu (ĐHMT) bắt nguồn từ các nghiên cứu của Dweck và các đồng nghiệp, đối tượng của các nghiên cứu này chủ yếu là học sinh phổ thông (Dweck, 1988).
Dweck và các cộng sự nhận thấy rằng khi giao cho các em học sinh các bài tập thử thách với độ khó tăng dần thì các em phản ứng theo hai khuynh hướng : nhóm thứ nhất là các học sinh vẫn tiếp tục đương đầu với các khó khăn, thách thức, tìm các phương án để giải quyết vấn đề. Mục tiêu của các em là nắm bắt kiến thức mới. Nhóm này theo được xếp vào nhóm có định hướng mục tiêu học tập (ĐHMTHT). Ngược lại, các học sinh ở nhóm thứ hai trở nên thất vọng, chán nản và không tự tin khi đối mặt với các bài tập có độ khó ngày càng tăng.
Các em có xu hướng tìm kiếm sự giúp đỡ hơn là tự tìm cách giải quyết. Nhóm này được xếp vào nhóm định hướng mục tiêu kết quả (ĐHMTKQ). ĐHMT sau đó được đề cập đến ở những người trưởng thành (Farr, 1993). Các cá nhân với ĐHMTHT phấn đấu để mở rộng năng lực của mình.
Họ thích các công việc thách thức, có khuynh hướng tham gia vào các công việc/nhiệm vụ phù hợp với giá trị của cá nhân, kiên trì với những trở ngại. Thông qua đó các cá nhân tích lũy kinh nghiệm. Trái lại, những cá nhân với ĐHMTKQ hướng đến việc thể hiện mình hơn là trau dồi kĩ năng, kiến thức. Các cá nhân này có khuynh hướng né tránh thách thức, sợ nhận được đánh giá thấp từ mọi người.
Mục tiêu mà những cá nhân này hướng đến là kết quả, thành tích, hay nhận xét tích cực từ mọi người. 6 Các cá nhân với những ĐHMT khác nhau sẽ thiết lập cho mình những mục tiêu làm việc khác nhau. Quá trình thực hiện công việc ở hai nhóm đối tượng này cũng rất khác nhau. Các cá nhân với ĐHMTHT quan tâm đến việc học hỏi trong quá trình làm việc, ngược lại các cá nhân ĐHMTKQ lại quan tâm đến kết quả và nhận xét đánh giá từ người khác.
Việc thiết lập mục tiêu của hai nhóm này khác nhau, nên các cá nhân sẽ có mức độ hài lòng khác nhau với kết quả làm việc thu được. Giá trị công việc (Task value): Giá trị là danh từ dùng để chỉ các đặc tính tồn tại trong một sự vật, hiện tượng được cá nhân nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân. Khi đã được lựa chọn, giá trị trở thành định hướng trong hoạt động và có tác dụng thúc đẩy hành động của mỗi cá nhân. Giá trị công việc (GTCV) là niềm tin của người lao động về công việc hay mức độ mà công việc đáp ứng các nhu cầu của cá nhân.
Các cá nhân với hệ thống niềm tin và nhu cầu khác nhau thì giá trị mà công việc đem lại cho mỗi cá nhân là khác nhau. Khi người lao động tồn tại một nhu cầu, chính nhu cầu này sẽ thôi thúc họ hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó, điều này đồng nghĩa với hành động của người lao động đã giúp họ đạt được những giá trị. Ngược lại, khi giá trị được người lao động nhận thức trong môi trường làm việc của tổ chức, người lao động cũng điều chỉnh hành động của bản thân cho phù hợp với môi trường, lúc này giá trị có vai trò định hướng hành động. Văn hóa học tập trong tổ chức (Organizational learning culture): Văn hóa tổ chức: Ở các tổ chức trên thế giới ngày nay, một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với các tổ chức là truyền đạt cho người lao động hiểu biết sứ mạng, mục tiêu của tổ chức, các giá trị, niềm tin cũng như những hành vi mong đợi trong tổ chức- đó chính là văn hóa tổ chức (Lam, 2011).
Hiểu một cách đơn giản, văn hóa của tổ chức chính là hệ thống giá trị, niềm tin tác động đến suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân trong tổ chức. 7 Tổ chức học tập: Một tổ chức học tập là một tổ chức liên tục tạo điều kiện cho nhân viên của mình tiếp cận kịp thời thông tin, trao quyền cho nhân viên để cải thiện hiệu suất làm việc của cá nhân. Tổ chức học tập liên quan đến việc tạo ra một môi trường văn hóa mà việc học được truyền đạt và gắn liền với việc truyền thông, dễ dàng để mọi người tìm kiếm thông tin. Ví dụ như diễn đàn trực tuyến cho việc trao đổi kinh nghiệm, thông tin giữa các cá nhân trong tổ chức.
Một tổ chức học tập là một tổ chức trong đó bạn không thể không học vì học tập trở thành nền tảng của các hoạt động trong tổ chức. Tổ chức học tập là một tổ chức mà các cá nhân trong tổ chức đều liên quan đến việc tạo ra, tiếp thu, chuyển giao kiến thức, và sửa đổi hành vi của cá nhân để phản ánh kiến thức và hiểu biết mới. Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, xây dựng một tổ chức khuyến khích việc học hỏi sẽ giúp công ty có khả năng thích ứng với các biến đổi từ môi trường kinh doanh, ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong kinh doanh một cách dễ dàng, truyền thông hiệu quả, các cá nhân được tạo điều kiện học hỏi, sáng tạo để cống hiến nhiều hơn cho tổ chức. Phản hồi tích cực (Developmental feedback): Phản hồi được hiểu là quá trình truyền và nhận thông tin giữa hai hay nhiều đối tượng.
Phản hồi tích cực (PHTC) đề cập đến mức độ mà người quản lí cung cấp cho nhân viên các thông tin hữu ích giúp họ học hỏi, điều chỉnh và thực hiện công việc tốt hơn. Quá trình phản hồi là sự tương tác diễn ra rất thường xuyên trong công ty. Quá trình phản hồi xảy ra khi có sự tham gia từ hai phía. Quá trình phản hồi diễn ra trong quá trình đào tạo, trong quá trình thực hiện công việc.
Khi nhân viên đề cập đến những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện công việc, người quản đốc sẽ hỗ trợ họ đế giải quyết những khó khăn đó. Không dừng lại ở đó, quản đốc còn cung cấp cho nhân viên những thông tin hữu ích để nhân viên đạt kết quả tốt hơn. PHTC biểu hiện qua việc quản đốc cho nhân viên biết công việc được tiến hành theo trình tự nào thì đạt hiệu quả nhất. Công việc của nhân viên nếu sai thì sai 8 ở đâu, sửa như thế nào, tại sao lại sửa như vậy mà không phải phương án khác.
Để PHTC, người quản đốc cần hiểu được vấn đề người lao động đang gặp phải là gì, từ đó hỗ trợ đạt kết quả cao trong công việc. Sự hài lòng trong công việc (Job satisfaction): Sự hài lòng trong công việc (HLCV) là trạng thái cảm xúc tích cực, thoải mái, vui vẻ của một cá nhân khi đánh giá về công việc của mình, cũng như các yếu tố có liên quan trong quá trình thực hiện công việc. HLCV còn được hiểu là mức độ người lao động yêu thích công việc của mình, đó là thái độ dựa trên nhận thức của cá nhân về công việc hoặc môi trường làm việc. Môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và ĐHMT của người lao động thì mức độ thỏa mãn công việc càng cao.
Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện trong nước như nghiên cứu của Ánh (2010), Dung (2005) và ngoài nước (Cem, 2008; Hsu, 2009; Egan, 2004) được thực hiện để khám phá các yếu tố tác động đến HLCV của người lao động. Các yếu tố đó là: tiền lương, môi trường làm việc, văn hóa học tập trong tổ chức, hành vi lãnh đạo, đồng nghiệp, bản chất công việc. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các yếu tố môi trường liên quan trong quá trình thực hiện công việc của người lao động tác động đến HLCV của họ như thế nào. Tuy nhiên, HLCV còn xuất phát từ chính bản thân người lao động khi họ so sánh giữa mục tiêu đề ra của cá nhân và kết quả đạt được.
Chẳng hạn, định hướng của công nhân A trong quá trình làm việc là đạt được 5 sản phẩm/1 ca làm việc. Khi công nhân A đạt được điều đó, có nghĩa là công nhân A đã thành công trong việc hoàn thành mục tiêu đề ra. Cảm giác tích cực, vui vẻ có được khi hoàn thành mục tiêu, hay kinh nghiệm có được sau quá trình thực hiện công việc chính là biểu hiện của HLCV. HLCV của một cá nhân chịu tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài.
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến HLCV là lương, môi trường làm việc, hành vi lãnh đạo.Trong khi yếu tố bên trong ảnh hưởng đến HLCV của cá nhân lại liên quan đến sự cảm nhận chủ quan của cá nhân về sự hoàn thành công việc hoặc mức độ đạt được các mục tiêu đề ra. Gắn bó với tổ chức (Organizational commitment): Gắn bó với tổ chức (GBTC) là mối liên hệ chặt chẽ của một cá nhân và sự tham gia của cá nhân vào một tổ chức cụ thể.