CHƯƠNG 1 Trên cơ sở lý do chọn đề tài đã được trình bày, luận văn “ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc của nhân viên ngân hàng tại TP.HCM” đã xác định rõ các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; nguồn dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu này cho thấy cái nhìn tổng quan về ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến kết quả công việc của nhân viên nhân viên ngân hàng tại TP. Trên cơ sở đó giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có các chính sách quản trị phù hợp tác động đến trí tuệ cảm xúc để nâng cao kết quả công việc của nhân viên thông qua đó giúp nâng cao hiệu quả của các ngân hàng. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
LÝ THUYẾT VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC 2. Khái niệm Trí tuệ cảm xúc Trí tuệ cảm xúc là một chủ đề được nghiên cứu rộng rãi, thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực về hành vi, nguồn nhân lực và quản lý tại các tổ chức. Ngoài ra, trí tuệ cảm xúc có thể giúp chúng ta hiểu về các mối quan hệ tại nơi làm việc (Jordan & Troth, 2002; O’Boyle & cộng sự, 2011; Akhtar & cộng sự, 2017; Aqqad & cộng sự, 2019). Trong những năm qua, nhiều định nghĩa và cách sử dụng đã được đưa ra liên quan đến trí tuệ, mặc dù vậy, các định nghĩa và cách sử dụng này được nghiên cứu để bổ sung chứ không mâu thuẫn với nhau (Law & cộng sự, 2008; Aqqad & cộng sự, 2019).
Trí tuệ có thể được định nghĩa là khả năng thực hiện những suy nghĩ trừu tượng và học hỏi cũng như thích nghi với môi trường (Salovey, Mayer & Caruso, 2004). Trí tuệ bắt nguồn từ khái niệm “trí tuệ xã hội” được Thorndike đưa ra lần đầu tiên vào năm 1920. Trí tuệ xã hội là “khả năng hiểu và điều khiển người khác hành động một cách khôn ngoan trong quan hệ giữa người với người”. Theo sau Thorndike, Gardner (1983, 2011) đã đưa trí tuệ xã hội trở thành một trong bảy loại trí tuệ trong thuyết đa trí tuệ của mình.
Ông cho rằng trí tuệ cá nhân bao gồm hai cấu trúc là trí tuệ nội tâm và trí tuệ tương tác. Trí tuệ nội tâm đề cập đến “hiểu biết về khía cạnh bên trong của một người: tiếp cận cuộc sống qua cảm giác của chính mình, phạm vi cảm xúc, khả năng thực hiện phân biệt đối xử giữa những cảm xúc này và cuối cùng là gắn nhãn chúng và dựa vào chúng như một phương tiện để hiểu và hướng dẫn hành vi của chính mình”, và trí tuệ tương tác đề cập đến khả năng nhận thấy sự khác biệt của những người khác về tâm trạng, sự nóng nảy, động lực và ý định của họ (Gardner, 1983, 2011). 8 Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng trí tuệ cảm xúc là một cấu trúc bao gồm các phẩm chất cá nhân đóng vai trò là công cụ ảnh hưởng tích cực đến các tương tác và các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày (Morehouse, 2007; Yến, 2008). Cho tới ngày nay, có nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ cảm xúc.
Anh & cộng sự (2019) cho rằng có thể kể đến ba quan điểm cơ bản sau đây: Quan điểm thứ nhất xem trí tuệ cảm xúc là năng lực thuần tuý được bắt nguồn từ hai nhà tâm lý học Salovey & Mayer (1990). Dựa trên công trình của Gardner (1983, 2011), Salovey & Mayer (1990) đã đề xuất khái niệm trí tuệ cảm xúc. Họ định nghĩa trí tuệ cảm xúc là khả năng nắm bắt cảm xúc của mình và cảm xúc của những người khác để phân biệt tác động tích cực và tiêu cực của cảm xúc và sử dụng thông tin cảm xúc để tác động đến suy nghĩ và hành vi. Vào năm 1997, Mayer & Salovey (1997) đã đề xuất rằng trí tuệ cảm xúc khác với các dạng trí thông minh khác, đặc biệt là các cấu trúc về thông minh nội tâm và thông minh tương tác của Gardner (1983, 2011) vì nó liên quan đến nội dung của cảm xúc và kiểm soát cảm xúc.
Quan điểm về trí tuệ cảm xúc của Mayer & Salovey (1997) tập trung vào năng lực cảm xúc, cụ thể là liên kết giữa cảm xúc và nhận thức. Quan điểm thứ hai sau đó đã được Goleman (1995) phổ biến qua cuốn sách có tựa đề Emotional Intelligence: Why it Can Matter More IQ (Trí tuệ cảm xúc: lý giải tại sao người kém thông minh lại thành công hơn những người thông minh). Trong cuốn sách của mình, Goleman (1995) đã cho thấy rằng trí tuệ cảm xúc được coi là một nhân tố đóng góp đáng kể cho thành công cá nhân, đặc biệt cũng cho thấy rằng nó đóng góp vào khoảng 80% thành công và 20% còn lại đến từ trí thông minh tại nơi làm việc. Quan điểm của Goleman (1995) kết hợp các năng lực xã hội và cảm xúc chẳng hạn như đặc điểm và thái độ (Jordan & Troth, 2002).
Quan điểm thứ ba được đề xuất bởi Bar-On (2000). Theo đó, trí tuệ cảm xúc được nhìn như là tố chất của mỗi cá nhân, xuất hiện từ khi sinh ra chứ không phải qua đào tạo. Cụ thể, trí tuệ cảm xúc được hiểu là khả năng tự nhiên của mỗi cá nhân trong việc tự nhận biết bản thân và hiểu được những người khác, khả năng thiết lập các mối quan hệ cá nhân tốt và thích ứng với môi trường. 9 Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã xác định có hai loại trí tuệ cảm xúc khác nhau gồm: trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực và trí tuệ cảm xúc dựa trên đặc điểm.
Sự khác biệt này rất quan trọng vì trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực được cho là liên quan đến kỹ năng đối phó, giải quyết vấn đề và trong khi trí tuệ cảm xúc dựa trên đặc điểm được cho là liên quan đến đặc điểm tính cách (Jensen & cộng sự, 2007). Trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực được định nghĩa là sức mạnh để nhận thức và truyền đạt cảm xúc, đồng hóa cảm xúc trong suy nghĩ, hiểu và lý trí bằng cảm xúc và điều chỉnh cảm xúc của bản thân và cảm xúc của người khác (Petrides, 2011). Trí tuệ cảm xúc dựa trên năng lực có một số đặc điểm. Chẳng hạn, đối với một người, nó được tạo thành chủ yếu từ các khả năng liên quan.
Những khả năng này góp phần vào việc kiểm soát cảm xúc riêng của mình bên cạnh hiểu những cảm xúc của người khác, điều này dẫn đến những hành vi và suy nghĩ tốt hơn. Đặc điểm thứ hai là trí tuệ cảm xúc là một trí thông minh chỉ ra rằng nó có thể cải thiện theo thời gian. Cuối cùng, trí tuệ cảm xúc được cho là tiến triển theo độ tuổi và kinh nghiệm (Shih & Susanto, 2010). Mặt khác, loại hình trí tuệ cảm xúc dựa trên đặc điểm bao gồm một loạt các năng lực phi trí tuệ.
Ở đây, trí tuệ cảm xúc được coi là một tập hợp những khuynh hướng hành vi và nhận thức về bản thân liên quan đến khả năng nhận biết, xử lý và sử dụng thông tin chứa đầy cảm xúc (Zampetakis & cộng sự, 2008). Trí tuệ cảm xúc dựa trên đặc điểm cũng cho thấy rằng trí tuệ cảm xúc là một phần của tính cách và nằm ở cơ sở thuộc về các cấp bậc tính cách (Sevdalis và cộng sự, 2007). Ba quan điểm về trí tuệ cảm xúc ở trên có thể chia thành 2 mô hình: thứ nhất là mô hình năng lực và thứ hai là mô hình hỗn hợp. Quan điểm của Mayer & Salovey (1997) thuộc mô hình năng lực, trong khi đó quan điểm của Goleman (1995) và Bar- On (2000) thuộc mô hình hỗn hợp, tức là xem trí tuệ cảm xúc là năng lực kết hợp với các yếu tố khác như đặc điểm cá nhân và thái độ.
Mayer & Salovey (1993) cho rằng trí tuệ cảm xúc tiêu biểu cho những cấu trúc độc đáo vô nhị có thể làm nền tảng cho quá trình hình thành thông tin cảm xúc, không nên xem xét trí tuệ cảm xúc như hỗn hợp những năng lực bẩm sinh (năng khiếu) và những nét tính cách cá nhân, mà nên xem nó như một loại trí tuệ làm phát triển và nâng cao sự hình thành các thông tin nhất định. Bên cạnh đó, Kanesan & Fauzan (2019) cho rằng quan điểm của Mayer & Salovey (1997) với mô hình năng lực của trí 10 tuệ cảm xúc là mô hình có ảnh hưởng nhất vì nó hoàn toàn sử dụng khả năng nhận thức trong việc xử lý cảm xúc và được chứng minh một cách khoa học. Hơn nữa, Mayer & Salovey (1997) lập luận rằng trí tuệ cảm xúc là năng lực và không phải là một đặc điểm (hành vi nhất quán theo thời gian) khi nó tăng theo tuổi tác và đào tạo (Goleman, 1995; Mayer & Salovey, 1997). Bên cạnh đó, khi đánh giá đo lường trí tuệ cảm xúc thì mô hình dựa trên năng lực đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá trí tuệ cảm xúc dựa trên hành động biểu hiện, các mô hình hỗn hợp chủ trương đánh giá trí tuệ cảm xúc dựa vào sự tự thuật.
Ngoài ra, Cherniss (2010) nói rằng mô hình trí tuệ cảm xúc tốt nhất là mô hình năng lực của Mayer & Salovey (1997) vì nó tuân theo định nghĩa chung về trí tuệ cảm xúc, điều khiển cảm xúc của chính mình và của những người khác. Trong khía cạnh này, O’Boyle & cộng sự (2011) đã đồng ý rằng mô hình năng lực của Mayer & Salovey (1997) và các công cụ được phát triển dựa trên mô hình năng lực là tốt nhất vì nó có khả năng phân biệt trí tuệ cảm xúc với các yếu tố liên quan như tính cách và các năng lực khác như năng khiếu, vốn tâm lý,. Do đó, trong nghiên cứu này, mô hình năng lực và công cụ được phát triển dựa trên mô hình năng lực được sử dụng để mô tả các hiện tượng vì nó nhấn mạnh hình thức thuần túy của trí tuệ cảm xúc mà không bao gồm các đặc điểm. Đồng thời, mô hình này cũng được các các tác giả trước sử dụng khi nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc trong lĩnh vực ngân hàng (Dincer & Orhan, 2012; Akhtar & cộng sự, 2017; Bhuvaneswari & Natarajan, 2018; Aqqad & cộng sự, 2019).
Như vậy, luận văn sẽ sử dụng quan điểm của Mayer & Salovey (1997) về trí tuệ cảm xúc.