Nghiên cứu năng lực cạnh tranh DN may vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ

Luận án tiến sĩ kinh tế công nghiệp đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Phân tích sâu sắc yếu tố ảnh hưởng và

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế công nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2014

263
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là lĩnh vực quan trọng trong kinh tế công nghiệp. Luận án tiến sĩ của Võ Thị Quỳnh Nga năm 2014 tập trung vào các doanh nghiệp may trên địa bàn vùng kinh tế trọng điểm trung bộ Việt Nam. Ngành may mặc có tính toàn cầu cao. Cạnh tranh gay gắt do rào cản thâm nhập thấp. Các đối thủ không ngừng đổi mới phương thức cạnh tranh. Giá thấp, thiết kế độc đáo, chất lượng nguyên liệu là những yếu tố then chốt. Khủng hoảng kinh tế 2008-2009 tác động mạnh đến ngành may toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam phải đóng cửa hoặc ngưng sản xuất. Tuy nhiên, một số nước vẫn vươn lên mạnh mẽ. Vùng kinh tế trọng điểm trung bộ bao gồm nhiều tỉnh thành có ngành may phát triển. Nghiên cứu này xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh. Mô hình Kim cương điều chỉnh được áp dụng để phân tích nhân tố ảnh hưởng. Kết quả giúp doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách hiểu rõ thực trạng cạnh tranh.

1.1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là khả năng đương đầu với đối thủ nhằm duy trì và nâng cao giá trị. Khái niệm này mang tính tương đối. Doanh nghiệp có thể cạnh tranh cao ở phạm vi này nhưng thấp ở phạm vi khác. Đánh giá năng lực cạnh tranh cần hệ quy chiếu xác định. Hệ quy chiếu bao gồm hệ thống chỉ tiêu, phạm vi không gian và thời gian. Năng lực cạnh tranh còn mang tính động. Các nhân tố vĩ mô và vi mô tác động liên tục thay đổi. Theo quan điểm hiệu quả hoạt động, doanh nghiệp cạnh tranh phải đạt giá trị cao hơn so với đối thủ trong cùng ngành.

1.2. Bối cảnh ngành may mặc tại vùng kinh tế trọng điểm trung bộ

Vùng kinh tế trọng điểm trung bộ gồm các tỉnh miền Trung Việt Nam. Ngành may mặc tại đây có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Doanh nghiệp may tại vùng này đối mặt nhiều thách thức. Nguồn cung nguyên liệu chủ yếu nhập khẩu. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế so với phía Nam và phía Bắc. Tuy nhiên, vùng có lợi thế lao động dồi dào và chi phí nhân công thấp. Chính sách ưu đãi đầu tư của chính quyền địa phương cũng là điểm mạnh. Các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong môi trường toàn cầu hóa.

II. Phân tích nhân tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may

Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may chịu ảnh hưởng của nhiều nhóm nhân tố. Luận án áp dụng mô hình Kim cương điều chỉnh của Porter. Mô hình này phân tích sáu nhóm nhân tố chính. Nhóm nhân tố nội tại doanh nghiệp bao gồm năng lực quản trị, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực. Nhóm nhân tố bên ngoài gồm điều kiện cầu các yếu tố đầu vào. Sự hỗ trợ của các dịch vụ hỗ trợ cũng quan trọng. Đặc điểm cạnh tranh của ngành quyết định mức độ gay gắt trong thị trường. Khả năng tiếp cận nguồn lực ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất. Chính quyền địa phương đóng vai trò tạo môi trường thuận lợi. Mỗi nhân tố có mức độ tác động khác nhau qua từng giai đoạn. Sự thay đổi của môi trường toàn cầu làm thay đổi tầm quan trọng của từng nhân tố. Nghiên cứu thực tiễn giúp xác định trọng số các nhân tố. Từ đó xây dựng mô hình đánh giá phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng kinh tế trọng điểm trung bộ.

2.1. Nhân tố nội tại doanh nghiệp may quyết định cạnh tranh

Năng lực quản trị là yếu tố nội tại quan trọng nhất. Doanh nghiệp có đội ngũ quản lý giỏi sẽ ra quyết định chiến lược hiệu quả. Công nghệ sản xuất quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp may cần đầu tư máy móc hiện đại để giảm giá thành. Nguồn nhân lực lành nghề giúp đảm bảo tiến độ đơn hàng. Văn hóa doanh nghiệp tạo sự gắn kết nội bộ. Khả năng tài chính cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Các yếu tố nội tại này doanh nghiệp có thể chủ động cải thiện. Đây là nền tảng để xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.

2.2. Nhân tố môi trường bên ngoài tác động đến doanh nghiệp may

Môi trường bên ngoài gồm nhiều nhóm nhân tố khách quan. Điều kiện cầu thị trường quyết định quy mô sản xuất. Nguồn cung nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành. Các dịch vụ hỗ trợ như logistics, tài chính giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Đặc điểm cạnh tranh của ngành tạo áp lực liên tục. Chính sách ưu đãi của chính quyền thu hút đầu tư. Hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội tiếp cận thị trường mới. Tuy nhiên, biến động tỷ giá và khủng hoảng kinh tế gây rủi ro lớn. Doanh nghiệp cần thích ứng nhanh với thay đổi môi trường bên ngoài để duy trì vị thế cạnh tranh.

III. Mô hình đánh giá và phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

Luận án xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh với hai thành phần chính. Thành phần thứ nhất là kết quả cạnh tranh phản ánh hiệu quả hoạt động hiện tại. Thành phần thứ hai là tiềm năng cạnh tranh thể hiện khả năng phát triển tương lai. Hệ thống chỉ tiêu được lựa chọn đảm bảo tính khả thi trong thực tế. Phạm vi đánh giá là vùng kinh tế trọng điểm trung bộ. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp may trong vùng. Phân tích nhân tố khám phá xác định nhóm nhân tố quan trọng. Hồi quy đa biến kiểm định mối quan hệ giữa nhân tố và năng lực cạnh tranh. Quy trình nghiên cứu gồm nhiều bước từ xác định phương pháp đến kiểm định mô hình. Kết quả chỉ ra các giải pháp cụ thể giúp doanh nghiệp nâng cao cạnh tranh. Chính sách hỗ trợ từ chính quyền cũng được đề xuất trên cơ sở bằng chứng thực nghiệm.

3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá gồm hai nhóm lớn. Nhóm kết quả cạnh tranh bao gồm thị phần, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận. Nhóm tiềm năng cạnh tranh bao gồm năng lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tài chính. Các chỉ tiêu được xây dựng dựa trên lý thuyết và thực tiễn ngành may. Tính khả thi là tiêu chí quan trọng khi lựa chọn chỉ tiêu. Dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính và khảo sát trực tiếp. Hệ thống chỉ tiêu phải phản ánh đầy đủ năng lực cạnh tranh theo định nghĩa nghiên cứu. Đây là công cụ hữu ích cho doanh nghiệp và nhà quản lý đánh giá hiệu quả hoạt động.

3.2. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp may

Doanh nghiệp cần đầu tư công nghệ hiện đại để tăng năng suất. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo chuyên môn. Xây dựng thương hiệu để tạo lợi thế cạnh tranh riêng. Đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường đa dạng. Tối ưu hóa chuỗi cung ứng giảm chi phí nguyên liệu. Áp dụng quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Chính quyền cần cải thiện hạ tầng khu công nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Xúc tiến thương mại giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác quốc tế. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp và chính quyền tạo sức mạnh tổng thể nâng cao cạnh tranh ngành may vùng trung bộ.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho doanh nghiệp may vùng trung bộ

Luận án đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh được xây dựng phù hợp với điều kiện doanh nghiệp may. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá đảm bảo tính khoa học và khả thi. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh được xác định rõ ràng. Nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố nội tại doanh nghiệp có vai trò quyết định. Tuy nhiên, môi trường bên ngoài cũng tác động đáng kể. Kết quả nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án đóng góp vào hệ thống tri thức kinh tế công nghiệp. Về thực tiễn, doanh nghiệp có công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động. Nhà hoạch định chính sách có cơ sở xây dựng chương trình hỗ trợ ngành may. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi và cập nhật dữ liệu. Năng lực cạnh tranh là khái niệm động đòi hỏi theo dõi liên tục.

4.1. Hàm ý chính sách cho doanh nghiệp may và cơ quan quản lý

Doanh nghiệp nên xây dựng chiến lược cạnh tranh dựa trên thế mạnh riêng. Tập trung nâng cao năng lực quản trị và công nghệ sản xuất. Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng chuyên môn cao. Cơ quan quản lý cần tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Cải cách thủ tục hành chính giảm chi phí tuân thủ. Phát triển hạ tầng khu công nghiệp thu hút đầu tư ngành may. Xây dựng chương trình xúc tiến thương mại hỗ trợ doanh nghiệp. Kết nối doanh nghiệp với chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính sách hỗ trợ phải phù hợp với đặc thù doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự hợp tác công tư là chìa khóa nâng cao cạnh tranh ngành may vùng trung bộ.

4.2. Hạn chế nghiên cứu và hướng phát triển đề tài

Nghiên cứu có một số hạn chế cần lưu ý. Phạm vi khảo sát giới hạn tại vùng kinh tế trọng điểm trung bộ. Dữ liệu thu thập trong giai đoạn cụ thể có thể không phản ánh đầy đủ biến động. Mô hình Kim cương điều chỉnh cần được kiểm chứng thêm ở các ngành khác. Hướng phát triển đề tài bao gồm mở rộng phạm vi nghiên cứu toàn quốc. Cập nhật dữ liệu theo dõi diễn biến năng lực cạnh tranh qua thời gian. Áp dụng phương pháp nghiên cứu mới như học máy để phân tích dữ liệu lớn. So sánh năng lực cạnh tranh doanh nghiệp may Việt Nam với các nước trong khu vực. Nghiên cứu sâu hơn về tác động của chuyển đổi số đến cạnh tranh ngành may.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế công nghiệp nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may trên địa bàn vùng kinh tế trọng điểm trung bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nói chung và trong lĩnh vực may nói riêng * Phương pháp định tính Phần lớn các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nói chung theo định hướng xây dựng nền tảng lý thuyết về năng lực cạnh tranh sử dụng phương pháp này. Và theo cảm nhận của người đọc, các nhà nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát các hiện tượng cạnh tranh, kết hợp với các lý thuyết được xây dựng trước đó để khái quát hóa lý thuyết. Điển hình là các nghiên cứu của Abbott và Bredahl xv (1992), của Ambastha và Momaya (2004), của Depperu và Cerrato, của Plawgo và Chapman và nhiều nghiên cứu khác… * Phương pháp định lượng Phương pháp định lượng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Datta và cộng sự (2004) (dùng hàm translog về chi phí sản phẩm áp dụng tính toán dựa trên số liệu của 8 năm 1993-2000 của ngành dệt may Mỹ); của Haider (2007): sử dụng các số liệu thứ cấp về giá trị xuất khẩu, giá sản phẩm, thị phần và thời gian giao hàng để đánh giá năng lực cạnh tranh ngành may Bangladesh; của Shoemaker (2008) khi sử dụng số liệu thứ cấp về 15 chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh ngành nuôi bò sữa Mỹ; của Tập đoàn O’Route (2011): dùng số liệu thứ cấp về chi phí để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành may Nicaragua trong sự đối chiếu so sánh với ngành may của một số nước.

* Phương pháp hỗn hợp Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh. Có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành một cách rất công phu và thường được tiến hành qua 2 bước: phỏng vấn chuyên sâu, thảo luận nhóm nhằm phát hiện, bổ sung các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh hoặc/và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, sau đó tiến hành tiến hành đánh giá bằng hệ thống dữ liệu (có thể bằng dữ liệu thứ cấp lẫn sơ cấp). Điển hình trong sử dụng phương pháp này là Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2008-2009 của Porter và Schwab, Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngành xây dựng ở Phần Lan, Vương quốc Anh và Thụy Điển của Flanagan và cộng sự (2005). Hay trong nghiên cứu của Tập đoàn Nathan (2005) và Yanno (2007) khi đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành may Campuchia, Báo cáo năng lực cạnh tranh của 3 ngành của Nguyễn Đình Cung (2011)… Ngoài ra còn có phương pháp định tính trong định lượng như trường hợp của Belbase và Kharel (2009): các tác giả đã đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành may Nepal dựa trên chỉ tiêu RCA (Lợi thế cạnh tranh vượt trội) nhưng sau đó tiếp tục phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia để hiểu rõ hơn về năng lực cạnh tranh ngành.

Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nói chung và trong lĩnh vực may nói riêng Hình thức của các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh mà người viết có điều kiện tham khảo là khá đa dạng: bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, xvi đề tài nghiên cứu khoa học…Ở những mức độ khác nhau, các nghiên cứu trên đã đạt được một số kết quả nhất định: 1) Hệ thống lý luận về năng lực cạnh tranh Các công trình nghiên cứu có tính lý thuyết về năng lực cạnh tranh đã cung cấp một khối lượng kiến thức đáng kể về năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, hệ thống lý luận cũng được tìm thấy trong các công trình nghiên cứu ứng dụng. 2) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh vừa có tính bao quát, vừa có tính chuyên sâu Trong nhiều công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, đặc biệt là các nghiên cứu ứng dụng, các nhà nghiên cứu đã đề nghị cũng như sử dụng một hệ thống chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh. Có thể nhận thấy 2 trường phái rõ rệt: Trường phái thứ nhất chỉ sử dụng đơn tiêu thức để đánh giá.

Và tùy thuộc vào quan niệm của người nghiên cứu về năng lực cạnh tranh mà họ có thể sử dụng tiêu thức thị phần, hay chi phí, hay chỉ số RCA, hay ULC (Chi phí lao động đơn vị), hay năng suất… Trường phái thứ hai tuân thủ nguyên tắc đa trị của khái niệm năng lực cạnh tranh mà sử dụng rất nhiều chỉ tiêu đánh giá. Các chỉ tiêu thường được nhóm gộp theo các nhóm tùy thuộc vào quan điểm của nhà nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, vào kết quả nghiên cứu định tính thường được thực hiện khá công phu. 3) Trạng thái năng lực cạnh tranh của các quốc gia, ngành hay doanh nghiệp được nghiên cứu Một trong những thành tựu mà các nghiên cứu trên đạt được mang tính thực tiễn rất lớn, đó chính là xác định được vị trí cạnh tranh của các quốc gia, ngành, doanh nghiệp mà họ nghiên cứu. Đặc biệt, trong lĩnh vực may, dựa trên hệ thống chỉ tiêu đã được lựa chọn, các nghiên cứu trên đã cho thấy một bức tranh tổng thể nhưng nhiều chi tiết về năng lực cạnh tranh của ngành may một số quốc gia nhưng Ấn độ, Nepal, Campuchia, Thái Lan, Nicaragua…Và xuất phát từ ý thức rất rõ về tính tương đối của khái niệm năng lực cạnh tranh nên sự đánh giá trên cũng chỉ có ý nghĩa trên những thị trường xác định và trên các phương diện được lựa chọn đánh giá.

xvii 4) Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và cách thức ảnh hưởng của chúng Như vậy, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nói chung, năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực may nói riêng là khá phong phú. Trong giới hạn những nghiên cứu có thể tiếp cận được có thể nhận thấy năng lực cạnh tranh là một khái niệm nghiên cứu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu mà có quan điểm khá khác biệt, đôi khi là trái chiều trong việc quan niệm về năng lực cạnh tranh. Chính vì vậy, hệ thống lý luận mà họ cung cấp cũng đa dạng không kém xét trên nhiều góc độ, ở nhiều nội dung và vì vậy, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một sự sàng lọc, lựa chọn ứng dụng phù hợp nhất với mục tiêu nghiên cứu và bối cảnh nghiên cứu của mình. Ngoài ra, vấn đề thường được quan tâm nhất khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh là hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu triển khai trên nội dung này nhưng phần lớn là sử dụng một tiêu thức đánh giá mang tính đặc thù của ngành may hoặc là chỉ dừng lại ở rất nhiều chỉ tiêu có tính gợi ý. Trên một chuỗi biến thiên số lượng các chỉ tiêu đánh giá, về lý thuyết, có nhiều lựa chọn cho việc triển khai nghiên cứu: từ một chỉ tiêu đánh giá đến rất nhiều chỉ tiêu đánh giá. Lựa chọn của nghiên cứu này sẽ nằm ở phương án xác định một số các chỉ tiêu cho phép phản ánh nhanh nhưng cũng tương đối rõ nét trạng thái năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may trong một vùng xác định dựa trên một mô hình nghiên cứu có tính kế thừa từ các công trình nghiên cứu trên. Định hướng nghiên cứu này phù hợp với bối cảnh nghiên cứu với phạm vi rộng và bị giới hạn nhiều về nguồn lực.

Cũng trong bối cảnh nghiên cứu như vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng cũng sẽ được triển khai theo hướng kế thừa các thành quả nghiên cứu trước đó về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp may nói riêng, từ đó, thiết lập được mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh vừa mang tính đặc thù của ngành may, vừa phù hợp với bối cảnh nghiên cứu là ở Việt nam và cụ thể hơn là trong một vùng kinh tế có nhiều đặc điểm riêng có. Xuất phát từ thực tế là chưa có nghiên cứu nào về năng lực cạnh tranh được thực hiện theo định hướng nghiên cứu cấp doanh nghiệp nhưng trải rộng trên một vùng và có thực hiện so sánh ngoài vùng nên việc nghiên cứu dù chỉ dừng lại ở phát hiện vấn đề, mô tả vấn đề cũng đã là một thách thức đáng kể đối với nhà nghiên cứu và cũng là một đóng góp không nhỏ về mặt học thuật. Vì vậy, nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ sẽ được nghiên cứu chủ yếu là định tính. Cuối cùng, các giải pháp nâng cao năng xviii lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may cũng đã được gợi ý trong các nghiên cứu được trình bày ở trên nhưng chủ yếu là cho bối cảnh cụ thể của các nghiên cứu đó hoặc ngược lại, mang tính công thức chung.

Vì lẽ đó, các giải pháp được xây dựng với quan điểm riêng, cho bối cảnh nghiên cứu riêng của đề tài cũng sẽ được đề cập đến. xix CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC THIẾT LẬP CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY 1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP Qua thời gian, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) ngày càng được công nhận là quan trọng. Nó không chỉ quyết định sự tồn tại và vươn lên của DN trong cạnh tranh mà ngay cả khi xem xét sự cạnh tranh của các quốc gia, hay của các ngành trên thị trường quốc tế thì năng lực cạnh tranh của DN vẫn là yếu tố nền tảng.

Vì vậy trong số 3 cấp độ của năng lực cạnh tranh, cấp độ DN thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhất và đây cũng là trọng tâm nghiên cứu của luận án. Các khái niệm về năng lực cạnh tranh của DN Chúng ta có thể xem xét một vài khái niệm về năng lực cạnh tranh DN như sau: “Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với sự hoạt động mang lại lợi nhuận dài hạn của một công ty và khả năng của nó trong việc đảm bảo thu nhập cho người lao động và mang lại một khoản sinh lời cao hơn cho những chủ DN” - Báo cáo về hoạt động thương mại ở hải ngoại của một số chi nhánh của Loyds (1985, trích trong Flanagan và cộng sự, 2005, tr. Năng lực cạnh tranh của DN có thể được định nghĩa như là “khả năng của DN trong việc thiết kế, sản xuất và Marketing các sản phẩm vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh, xét cả về khía cạnh giá cả lẫn các khía cạnh phi giá”- D’Cruz (1992, trích trong Ambastha & Momaya, 2004, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ