LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thể toản cầu hóa và hội nhập kinh tế diễn ra ngày cảng mạnh mê và sâu sắc như hiện nay, nguồn nhân lực là nhân tổ đặc biệt, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển của nẻn kinh tế, của mỗi doanh nghiệp. Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy, sự tốn tại và phát triển của mỗi quốc gia hay mỗi doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng vào chính sách phát triển nguồn nhân lực của quốc gia hay doanh nghiệp đó, Nhận thức được tâm quan trọng của nguồn nhân lực, trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng ta, đã nhắn mạnh rằng: "phát huy nguỗn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Tuy nhiên, nguồn nhân lực phát huy được vai trò của nó không chỉ về số lượng mà còn ở chất lượng.
Khi nguồn nhân lực có quy mô lớn nhưng chất lượng thấp, năng suất lao động thấp thì thành yếu tố kìm hãm sự phát triển, Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải thường xuyên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, để đáp ứng yêu cầu phát triển của nên kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. La mt don vj trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc Phòng, sau hơn 15 năm xây dựng và phát triển, trải qua nhiều biên động về bộ máy tô chức, ngày nay Công ty TNHH MTV Quang Điện — Điện Tử đã trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu về ngành điện - điện tử. Đồng thời, Công ty TNHH MTV Quang Điện - Điện Tử là doanh nghiệp chuyên vẻ sản xuất và cung cấp các khí tải, điện, điện từ phục vụ cho quân đội cũng như cho nên kinh tế quốc dân. Vì vậy, hơn bao giờ hết, nguồn nhân lực đang trở thành yếu tổ quan trọng, quyết định sự thành bại của Công ty trong quá trình hội nhập và phát triên hiện nay.
Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp khác, Công ty TNHH MTV Quang Điện - Điện tử vẫn còn một khoảng cách không những về quy mô, hiệu quả sân xuất kinh doanh mã còn về chất lượng nguồn nhân lực, được coi là năng lực cạnh tranh mang bản sắc riêng biệt của các doanh nghiệp trong quá trình toản cầu hóa hiện nay. “Trong những năm vừa qua, Công ty TNHH MTV Quang Điện - Điện tử đã cö những chính sách, hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty. Nhưng kết quả mang lại thực sự chưa cao, chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều yêu kém, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, dẫn đến hiệu quả thực hiện công việc chưa cao. Như đại đa số cán bộ quản lý của Công ty được đảo tạo trong lĩnh vực kỹ thuật mà chưa được cập.
nhật thường xuyên kiến thức quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, dẫn đến nguồn nhân lực chất lượng cao của Công ty còn hạn chế. Việc xác định nhu câu đảo tạo nhiều trường hợp chưa xác định, nhiều lao. động chưa tích cực làm việc, tâm lý làm việc bị động, ÿ lại, đối phó, không. chịu được áp lực cao trong công việc,.
Do vậy, vấn để đặt ra cần có câu trả lời thỏa đáng: “làm thế nao dé nang cao chất lượng nguồn nhân lực trong Công ty?”. Xuất phát từ các hạn chế trên, trong phạm vi nghiên cứu dưới góc độ của một nhân viên trong Công ty, tác giả đã quyết định chọn nghiên cứu dé tài: “Chất lượng nguôn nhân lực của Công ty TNHH MTV Quang điện - Điện tử” làm luận văn thạc sỹ của mình. Tổng quan về các đề tài nghiên cứu Trong tình hình của nên kinh tế đẩy biến động như hiện nay, nguồn nhân lực vả chất lượng nguỗn nhân lực là một trong những vẫn đề then chót, thiết yếu đầu tiên để một tô chức, một doanh nghiệp tồn tại, pht triển bền vững và có được lợi thể cạnh tranh trên thị trường. Đây cũng là chủ để thu hút sự nghiên cứu của rất nhiều nhả nghiên cứu về kinh tế, cũng như các nghiên 10 cứu viên trẻ ở các cấp độ tiền sỹ, thạc sỹ vả cử nhân.
Điều đó được thể hiện ở số lượng lớn các giáo trình, tạp chí, tài liệu tham khảo, đề tải luận văn liên quan đến chủ đề này. 'Về cơ sở lý luận của nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực, đã có nhiều nghiên cứu và một số nghiên cứu như: Giáo trình “KinÄ tế phát triển” của Vũ Thị Ngọc Phùng (2006), Giáo trình “Kinh tế nguôn nhân lực” của Trần Xuân Câu và Mai Quốc Chánh (2009), Giáo trình “ Quán 0 nhân lực” của Nguyễn Vân Điểm và Nguyễn Ngọc Quân (2014). đã để cập các kiến thức cơ bán và có hệ thống cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực trong tô chức. Các tác giả đã làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung, các tiêu chí và phương pháp đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực, nhân tô ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong tô chức, doanh nghiệp dưới các góc độ.
Đó là những kiến thức mang tính lý luận mang tính thực tiễn của Việt Nam. Chủ đề nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực cũng được quan tâm, bàn luận và viết trên nhiễu tạp chí, chuyên san kinh tế & kinh doanh của nhiều tác giả, nhà khoa học, tiêu biểu như: “Náng cao chất lượng nguôn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hỏa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế trí thức” của Nguyễn Văn Sơn trên tạp chí Triết học, số 09, tháng. 9/2007; “Nang cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua phát triển kỳ năng lao động và vai trò của giáo dục phô thông" của Nguyễn Quốc Việt và Nguyễn Minh Thảo trên chuyên san Kinh tế & Kinh doanh 28 (2012); “Nang cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhó và vừa ở Hà Nội" của Nguyễn Bảo Thư trên tạp chí tài chính đăng ngày 18/03/2016. Cụ thể: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp " hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tể trí thức” của Nguyễn Văn Sơn trên tạp chí Triết học, số 09, tháng 9/2007.
Bài viết đã trình bảy một cách khái quát vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển bền vững. Trên cơ sở phân tích chỉ ra một số nét tích cực và hạn chế của nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực được tác giả phân tích chủ yếu qua ba yếu tổ cơ bản là thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực là tình trạng sức khỏe của con người, biểu hiện ở sự phát triển bình thường, có khả năng lao động.
Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng. nhân thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con người. Tâm lực là những giá trị chuẫn mức đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân. Thực tiễn nguồn nhân lực của nước ta trong thời gian qua, đã tăng một cách đáng kế về mặt lượng do sự gia tăng dân số ở mức cao và liên tục trong nhiều năm nhưng vẻ mặt chất lượng còn khá nhiễu hạn lẻu này thể hiện ở chỗ, thể lực, mức dinh dưỡng cho người Việt Nam còn ở mức thấp, đặc biệt là trẻ em - nguôn cung cấp nhân lực chính cho xã hội, sự hạn chế về thể lực ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu trí thức và trí thông minh của trẻ; vâ trí lực của nguồn nhân lực nước ta cũng còn nhiều điểm hạn chế như phần lớn lực lượng lao động là lao động phô thông, số lao.
động được đảo tạo chuyên môn còn thấp, thợ lành nghề ít,. Từ đó, tác giả đã để xuất và luận chứng một số giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng nguôn nhân lực, đáp ứng yêu câu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế trì thức. Cụ thể: (1) Đây mạnh giáo dục và đảo tạo; (2) Nâng cao thể lực cho con người; (3) Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực; (4) Tăng cường công tác dự báo nguồn nhân lực; (5) Xây dựng chính sách tiên lương hợp lý. “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua phát triển kỳ năng lao động và vai trỏ của giáo dục phổ thông của Nguyễn Quốc Việt và Nguyễn Minh Thảo trên chuyên san Kinh tế &: Kinh doanh 28 (2012).
Bài viết tìm hiểu nhu cầu của các doanh nghiệp vẻ kỹ năng lao động (kỳ năng cứng và kỳ năng mềm) khi tuyển dụng và để bạt, cũng như mức độ đáp ứng của lao động hiện nay. Kỹ năng cứng là kỳ năng nghề nghiệp — kỹ năng kỹ thuật cụ thể như khả năng học van, trinh độ chuyên môn cho mỗi công việc, ngành nghề nhất định và kinh nghiệm. Kỹ năng mềm thường hiểu là các kỹ năng không mang tỉnh kỹ thuật, là khả năng và đặc điểm cần có đề thực hiện chức năng như cung cấp thông tin hoặc dịch vụ tới khách hàng và đồng nghiệp, làm việc hiệu quả với tư cách là thành viên của nhóm, học hoặc đạt được kỹ năng kỳ thuật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, tao niềm tin đối với người quản lý và người hướng dẫn, hiểu vả thích nghỉ với những quy tắc văn hóa tại doanh nghiệp, đó là thước đo hiệu quả cao trong công việc. Tuy nhiên, thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay cho thấy thiểu hụt kỹ năng trên thị trường lao động, mặc dù nguồn nhân lực nước ta đồi dào và trẻ nhưng tỷ lệ của người có tay nghề và trình độ chuyên môn trên số dân của cá nước rất thấp so với các nước trong khu vực, số lao động quản lý và kỳ thuật cao chiếm rất ít so với dân số cũng như quy mô nền kinh tế.
Thiếu hụt kỹ năng là một trong những điểm yếu của lao động Việt Nam tham gia quá trình hội nhập, do đó việc đảo tạo nghề có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và qua đó tạo ra sự phát triển cho tương lai. Tuy nhiên, ở nước ta vẫn còn hạn chế trong dạy nghề phô thông, hiện nay kỹ năng nghề và nhất là kỹ năng mềm chưa thật sự được ngành giáo dục chú trọng quan tâm, đặc biệt trong giáo dục phô thông, mà người lao động chủ yêu có được các kỹ năng mềm thông qua tích lũy kinh nghiệm.